Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2015

TRẦN ĐỨC THẢO – Version 1: Những lời trăng trối Hay nhận thức và ân hận muộn màng?



Hiếu Tân

  Khi đọc (trên mạng) những trích đoạn TĐT nói (chuyện với Lê Tiến) được ghi âm lại, tôi thấy khả nghi: lẽ nào một nhà triết học, nói về một lí thuyết triết học, mà không có lập luận gì cả, chỉ nhắc đi nhắc lại Marx sai, chính Marx đã sai, rồi Hegel sai, và Marx theo Hegel Marx cũng sai! Rồi đập bàn, nóng này, giận dữ. Không có vẻ một nhà triết học, nhà nghiên cứu.
Nhưng sau khi đọc cả tài liệu, đến đoạn cuối này như một bằng chứng, thì tôi thấy có thể là thật. Thì ra trước đó tôi đánh giá TĐT cao hơn, hay nói cách khác, kì vọng hơn. Và tôi buồn cho ông.
Cuốn sách mỏng cho thấy một đoạn đời TĐT, đoạn cuối cùng, từ khi ông sang Pháp đến khi chết. Người  thuật lại có một tình cảm quý trọng chân thành đối với TĐT, và tôi cảm ơn ông về điều đó. Nhờ có cuốn sách mà chúng ta hiểu TĐT rõ hơn.
Cầm trên tay “Những lời trăng trối” của TĐT, người đọc nghĩ gì? Chúng ta mong được thấy những suy tư triết học của một người được coi là nhà triết học gần như duy nhất của đất nước, người do một sự lắt léo của số phận mà thành “người quan sát trong cuộc” của cách mạng cộng sản ở VN, và người cuối cùng đã phản tỉnh, đã nhìn thấy “mặt thật” và từ bỏ nó. Con đường  le chemin de tourment’ đã qua và những suy tư của một đầu óc tầm cỡ triết gia như ông sẽ giúp cho nhiều người đi sau thoát khỏi lầm lạc chăng? Bây giờ, cái gì là đúng cái gì là sai đã rõ ràng, nhưng là nhà triết học, ông có thể giúp cho ta nhìn lại cái phương pháp, để trong muôn vàn rối rắm, biết tách ra khỏi cái sai mà tìm về gần với chân lí. Kì vọng của chúng ta đặt vào nhà triết học là vậy, chứ không phải những kiến thức rối mù trong suy tư trừu tượng rút ra từ núi sách vở mà ông đã đọc.
Ta gặp trong sách chuyện kể về những đoạn đời chủ yếu của TĐT từ khi về nước (1951) đến khi trở lại Pháp (1992) những nỗi niềm, cay đắng, bức xúc, những băn khoăn , trăn trở, qua trải nghiệm thực tế của nhà triết học. Lời thuật nói chung là khả tín. Một điều đáng tiếc nhỏ, là đôi khi người thuật có xu hướng “tiểu thuyết hóa”, dường như là do muốn bổ sung cho câu chuyện bớt sơ sài. Chẳng hạn chuyện kể CCRĐ: bắt rễ - xâu chuỗi – họp đội – xử án địa chủ, quá tỉ mi – cách k của nhà văn cho người đọc – không phi giọng trò chuyện riêng, và thiếu những nhận định khái quát. Có những chi tiết đã nhiều người biết, như vụ xử bà Năm, nhưng vụ cố vấn TQ nêu tấm gương c Hồ x bắn bà Năm’, tôi cho là không thực. Về CCRĐ, điều mà tôi muốn biết là khi đó TĐT đã viết gì về CCRĐ, ý kiến có tính triết học? (Được biết TĐT có bài viết về CCRĐ, nhưng hình như ngoài những hệ lụy tồi tệ đối với tác giả, bài viết không có tiếng vang đáng kể nào.)
Ngoài ra trong sách có một số chi tiết không đúng thời điểm: Điện hạt nhân – xe lửa cao tốc – khách sạn 5 sao, những vấn đề chỉ gần đây mới có: (Thảo ra đi 1993!).

Thứ Ba, 17 tháng 2, 2015

GREGOR SAMSA YÊU

Truyện ngắn của Haruki Murakami
Hiếu Tân dịch


Thức dậy, anh phát hiện ra rằng anh đã trải qua một cuộc biến hình và trở thành Gregor Samsa[1].
Anh nằm ngửa sóng soài trên giường, nhìn lên trần nhà. Phải mất một lúc mắt anh mới quen với bóng tối. Trần nhà có vẻ như một cái trần bình thường, có thể trông thấy hằng ngày ở bất cứ đâu. Trước đây nó đã từng được sơn màu trắng, hay có lẽ màu kem nhạt. Tuy nhiên nhiều năm bụi và bẩn đã biến nó thành màu sữa hỏng. Không có trang trí, không có nét gì đặc biệt. Không lí lẽ, không thông điệp. Nó thực hiện vai trò kiến trúc của nó nhưng không gợi hứng gì.

Haruki Murakami
Ở một bên căn phòng phía tay trái anh, có chiếc cửa sổ cao, nhưng rèm che đã bị tháo đi, và những tấm ván gỗ dày được đóng đinh vào khung cửa sổ. Giữa các tấm ván là các khe ngang cỡ hai ba cm, chẳng hiểu có mục đích gì hay không, những tia nắng sớm chiếu qua, tạo những vệt sáng song song trên nền nhà. Tại sao phải chắn cửa sổ một cách thô thiển như thế? Ngoài khơi có bão hay lốc xoáy gì chăng? Hay để chặn không cho ai đó đột nhập vào? Hay để ngăn không cho ai đó (như anh chẳng hạn?) thoát ra?

Vẫn nằm ngửa, anh từ từ quay đầu và xem xét phần còn lại của gian phòng. Anh không thấy có đồ đạc gì, ngoài cái giường mà anh đang nằm. Không tủ ngăn kéo, không bàn viết, không ghế. Không có tranh ảnh, đồng hồ, hay gương soi treo trên tường. Không có bóng đèn hay cây đèn nào. Anh cũng không thấy có tấm thảm nào trên sàn. Chỉ có gỗ trần. Các bức tường được bọc bằng giấy dán tường hoa văn phức tạp, nhưng nó quá cũ và bạc màu trong cái ánh sáng nhợt nhạt đến nỗi không thể nhận ra mẫu mã gì nữa.

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

Lão Shadrach Cohen Mỹ hóa


Bruno Lessing (1870- 1940)
HIẾU TÂN dịch

Một con giun mà quằn lên thì chẳng theo qui tắc nào cả. Ấy thế nhưng, hầu như mọi con giun quằn lên đều rất bất ngờ. Lão Shadrach Cohen cũng thế.
Lão có hai con. Một đứa là Abel, và thằng kia, Gottlieb. Chúng rời nước Nga năm năm trước cha, mở một cửa hiệu trên phố Hester bằng tiền lão cho chúng. Vì những lí do mà chỉ những người buôn bán hiểu được, chúng quản lí cửa hiệu mang tên người cha, và, khi công việc làm ăn đã nên khá giả, thấy có cơ hội đầu tư thêm nhiều vốn sẽ có lợi hơn, chúng viết thư mời người cha thân yêu sang đất nước này.
“Ở đây chúng con có ngôi nhà xinh đẹp cho cha. Cha con ta sẽ sống hạnh phúc bên nhau.”

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2015

George Sand (1804-1876)


Chân dung George Sand năm 34 tuổi. Auguste Charpentier vẽ, 1838 
Vào thời kì tiểu thuyết lãng mạn (với Những Bí mật thành Paris của Eugène Sue và những chương đầu bản thảo Những người khốn khổ của V.Hugo) lấy cảm hứng từ những vấn đề xã hội và nhân đạo, George Sand chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các học thuyết của các nhà tư tưởng như Michel de Bourger, Lamennais, và nhất là của nhà xã hội chủ nghĩa Pierre Leroux (x. trg 328) bản thân George Sand, bắt đầu từ năm 1840 cũng chọn lối viết tiểu thuyết mơ mộng về những chủ đề sẽ củng cố sự dấn thân của bà như một nữ chiến sĩ: đoàn kết hữu ái giai cấp, sự công bằng trong phân chia đất đai, chủ nghĩa hòa bình. 
Nổi bật nhất về lựa chọn tư tưởng hệ trong những sách của bà là Bạn đồng hành Vòng quanh nước Pháp (Le compagnon de Tour de France - 1840), Người thợ xay bột ở Angibault (Le meunier d’Angibault - 1845), và cả Tội lỗi của ông Antoine (Le Péché de Monsieur Antoine- 1847). Theo lời Michel Raimond, “Giá trị của những tiểu thuyết này không phải ở những đoạn nghị luận nặng nề về vấn đề xã hội, mà ở những cảm nhận về thời đại của mình, là những bước mò mẫm ban đầu của một nền văn chương đại chúng. Những tiểu thuyết ấy nếu không thành công, cho dù được đăng nhiều kì trên báo, trong việc làm cho văn chương thấm vào dân chúng, thì cũng đã đánh dấu, thường là một cách màu mè, việc dân chúng tràn vào tiểu thuyết”.

BUỔI RẠNG ĐÔNG THẾ KỈ 19 (À l'aube du siècle)

CHÍNH TRỊ VÀ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC

1. Kiểm duyệt của Nhà nước


Điều XI Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền nói rõ: Quyền tự do công bố tư tưởng và ý kiến là một trong những quyền quý nhất của con người: vì vậy mọi công dân đều có thể phát biểu, viết, in ấn một cách tự do, với điều kiện phải chịu trách nhiệm về việc lạm dụng quyền tự do ấy, trong những trường hợp do luật pháp qui định.
Cách mạng Pháp tôn trọng quyền tự do ấy cho đến tháng Tám năm 1792. Sau đó tình hình xấu đi dẫn đến việc đặt ra luật tội phạm báo chí vào tháng 3-1793, một chiếc mặt nạ mới của nền kiểm duyệt vĩnh viễn.

GÓT CHÂN ASIN CỦA PUTIN

Điểm cuốn sách “Sự thăng trầm của số phận: cuộc đấu giành dầu và quyền lực ở Nga”[i] của Thane Gustafson – giáo sư khoa học chính trị, ĐH Georgetown, Washington.

Tony Wood, London Review of Books
Hiếu Tân dịch (“LE TALON D’ACHILLE DE POUTINE” – Books, Mai 2014.)


Từ khi phát hiện ra những mỏ dầu Sibia, 1960s, nước Nga gắn bó với vàng đen. Chính sự sụt giá dầu vào năm 1986 đã kết liễu cơn hấp hối của LX. Chính sự bùng phát của nó, từ 1999, đã tài trợ cho sự trở lại quyền lực của Putin và thiết lập chủ nghĩa tư bản lai tạp và biến chất, biến nước Nga thành gần như một nhà nước dầu lửa. Ngày nay, hệ thống này đã suy yếu. Sự phụ thuộc xuất khẩu dầu khí rất nặng nề, các nguồn đang có xu hướng cạn kiệt và các công nghệ thì lỗi thời.

Lịch sử nước Nga thế kỉ XX không thiếu những bước ngoặt, từ CMT10 năm 1917, qua cuộc đánh bại Đức ở Stalingrad 1943, cho đến sự biến mất đột ngột LX cuối 1991. Nhưng mọi người đều biết, làm nên số phận nước Nga không phải chỉ có những thời điểm then chốt này. Những bước chuyển khác, khó thấy hơn, đã uốn cong quĩ đạo của đất nước này. Bắt đầu từ năm 1959. Hồi đó các nhà địa chất từ lâu đã ngờ vỉa quặng ngầm bên dưới đầm lầy L’Ob có dầu, một cuộc thăm dò khảo sát khi đó đã xác nhận điều này, khi phát hiện ra một vỉa dầu ở gần làng Chaim. Từ 1960, giếng R-6 được đào, sau 18 ngày khoan đến độ sâu 1.500 m nó bắt đầu phun dầu với tốc độ 400 đến 500 tấn / ngày đêm, và đây là ngành công nghiệp quan trọng đầu tiên được khai thác ở Sibir. Thành công này kích khởi cơn cuồng nhiệt thăm dò và trong thời gian bốn năm tiếp theo sau, hơn hai mươi vỉa dầu trong vùng này được phát hiện. Nhưng mãi đến tháng Ba năm 1965 khám phá quan trọng nhất trong lịch sử dầu khí nước Nga mới được thực hiện, với mỏ dầu khổng lồ Samotlor: đứng thứ hai thế giới ở đỉnh điểm của nó trong những năm 1980, đến nay vẫn nằm trong số năm nước hàng đầu, sản xuất hơn 35 triệu tấn dầu thô một năm.

Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2015

Alfred de Musset - Lời thú tội của một đứa con thế kỉ


HIẾU TÂN dịch 
[Collection Henri Mitterand: LITTÉRATURE XIXe Siecle-TEXT ET DOCUMENT]

Chắc chắn không có ai miêu tả hay như Musset, trong hai chương đầu của cuốn tiểu thuyết tự thuật năm 1836 Lời thú tội của một đứa con thế kỉ, trạng thái tinh thần của thế hệ trẻ lãng mạn trong phần ba đầu thế kỉ. Với óc tỉnh táo, nhà văn đã nhận ra trong cái khủng khiếp của cách mạng và trong cảnh tan tác của đế chế hai chấn thương lớn nhất đánh dấu thế hệ trong đó có ông: “Tất cả mọi bệnh tật của xã hội đến từ hai nguyên nhân: nhân dân đã qua năm 1789 và 1814 mang trong tim hai vết thương. Tất cả những gì đã qua thì không còn nữa, tất cả những gì sẽ đến thì vẫn còn chưa đến. Đừng tim bí mật của những điều ác của chúng ta ở đâu khác”