Hiển thị các bài đăng có nhãn BÁO CHÍ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÁO CHÍ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Tôn giáo bị khoa học quật đổ

(La religion terrassée par la science)
STEVEN WEINBERG*, The New York Review of Books
HIẾU TÂN dịch

Khoa học và tôn giáo thật ra vốn không xung khắc, nhưng thật khó nói. Tiến bộ khoa học phần nào làm giảm những bí mật của vũ trụ, từ thế kỉ 18 đã gây ra sự suy tàn của đức tin. Quá trình này để lại cho nhân loại cái nhìn khá lạnh lẽo vào vũ trụ, nhưng lại thả ra sự mù quáng làm sinh ra đủ loại sùng bái. Và ngay cả không có Chúa đi nữa, thì chủ nghĩa hư vô cũng không phải là định mệnh


Trong bài phát biểu nổi tiếng ở ĐH Harvart năm 1837 về “nhà bác học Mỹ”, triết gia Ralph Emerson đã thấy trước cái ngày mà nước Mỹ thôi không còn là “những người tập tễnh đi tìm học để biết những miền đất khác”. Tiên đoán của ông được thực hiện đầu thế kỉ 20, nhất là trong các lĩnh vực khoa học. Đây là điều may mắn. Trong danh sách các nhà bác học kiệt xuất, Emerson nêu tên Copernic, Galilée và Newton, bên cạnh Socrate, Jesus và Swendenborg[1].

Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2012

Tương lai của Lịch sử - Francis Fukuyama


Nền Dân chủ Tự do có thể Sống sót qua sự Suy tàn của Giai cấp Trung lưu không?

FRANCIS FUKUYAMA 
Tạp chí Foreign Affairs số tháng 1-2 năm 2012


  

 HIẾU TÂN dịch

 

Francis Fukuyama là cộng tác viên kỳ cựu ở Trung tâm về Dân chủ, Phát triển và Pháp trị tại Đại học Stanford và gần đây nhất là tác giả cuốn sách Nguồn gốc của Trật tự Chính trị: Từ thời Tiền sử đến Cách mạng Pháp.

Ngày nay trên thế giới đang diễn ra một điều kỳ lạ. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu năm 2008 và cuộc khủng hoảng đồng euro đang tiếp diễn đều là sản phẩm của mô hình chủ nghĩa tư bản tài chính được điều chỉnh nhẹ xuất hiện trong ba thập kỷ qua. Tuy vậy mặc dầu có cuộc nổi giận lan rộng đối với những cuộc cứu trợ tài chính Phố Wall, không có sự bộc phát lớn của chủ nghĩa dân túy phái tả Mỹ hưởng ứng. Có thể hiểu được rằng phong trào Chiếm Phố Wall sẽ giành được sức lôi kéo, nhưng phong trào dân túy gần đây năng động nhất chính là Đảng Trà (Tea Party) cánh hữu, mà mục tiêu chính của họ là tuyên bố ôn hòa nhằm bảo vệ những người dân bình thường khỏi những kẻ đầu cơ tài chính. Sự việc tương tự cũng diễn ra cả ở châu Âu, nơi phái tả thì xanh xao vàng vọt, còn các đảng dân túy phái hữu thì đang tích cực vận động.
Có nhiều lý do cho việc phái tả thiếu sức động viên, nhưng lý do chủ yếu là sự thất bại trong địa hạt tư tưởng. Đối với những thế hệ qua, vị trí cao về tư tưởng trên các vấn đề kinh tế thuộc về những người theo chủ nghĩa tự do cánh hữu. Phái tả không có khả năng tạo ra được một sự ủng hộ đáng kể nào cho chương trình nghị sự hơn là quay về với một hình thức không thể nào đạt được của nền dân chủ xã hội lỗi thời. Sự thiếu vắng một sự phản đối cấp tiến đáng tin cậy như thế là điều không lành mạnh, bởi vì cạnh tranh là tốt cho cuộc thảo luận trí thức cũng như cho hoạt động kinh tế vậy. Và một cuộc thảo luận trí thức nghiêm túc là cần một cách khẩn thiết, vì hình thức hiện tại của chủ nghĩa tư bản toàn cầu đang làm xói mòn xã hội trung lưu là cơ sở của nền dân chủ tự do.

LÀN SÓNG DÂN CHỦ
Các lực lượng và các điều kiện xã hội không đơn giản "quyết định" tư tưởng, như Karl Marx đã có thời khẳng định, nhưng tư tưởng cũng không trở nên mạnh mẽ nếu chúng không nói lên những mối quan tâm của đại đa số những người bình thường. Nền dân chủ tự do là tư tưởng mặc định trong phần lớn thế giới ngày nay một phần bởi vì nó đáp ứng và tạo điều kiện cho những cấu trúc kinh tế xã hội nhất định. Những thay đổi trong các cấu trúc này có thể có những hậu quả về tư tưởng, đúng như những hay đổi về tư tưởng có thể có những hậu quả về kinh tế xã hội.
Hầu như tất cả những tư tưởng mạnh định hướng các xã hội loài người cho đến 300 năm qua là [tư tưởng] tôn giáo về bản chất, chỉ có một ngoại lệ quan trọng là Khổng giáo ở Trung Hoa. Hệ tư tưởng thế tục lớn đầu tiên có tác dụng lâu dài trên toàn thế giới là chủ nghĩa tự do, một học thuyết gắn liền với sự lớn lên của một giai cấp trung lưu trước tiên là thương mại và sau đó là công nghiệp trong một số vùng ở châu Âu vào thế kỷ mười bảy. (Dùng từ "giai cấp trung lưu" tôi muốn nói đến những người không ở trên đỉnh chóp mà cũng không nằm dưới đáy xã hội của họ về phương diện thu nhập, những người có ít nhất học vấn trung học, và có tài sản thực, hàng xài lâu bền hoặc có doanh nghiệp riêng của mình)
Như được phát biểu bởi những nhà tư tưởng kinh điển như Locke, Montesquieu, và Mill, chủ nghĩa tự do chủ trương rằng tính hợp pháp của chính quyền nhà nước xuất phát từ khả năng của nhà nước bảo vệ các quyền cá nhân của các công dân của nó, và rằng quyền lực nhà nước cần được hạn chế bởi sự thượng tôn pháp luật. Một trong những quyền cơ bản được bảo vệ là quyền tư hữu, cuộc Cách mạng Vinh quang của Anh những năm 1688-1689 là cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa tự do hiện đại bởi vì trước hết nó thiết lập nguyên tắc theo hiến pháp rằng nhà nước không thể đánh thuế một cách hợp pháp các công dân của nó nếu họ không đồng ý.
Đầu tiên, chủ nghĩa tự do không nhất thiết hàm ý dân chủ. Những người của đảng Whig ủng hộ hiến pháp năm 1689 thường là những người sở hữu tài sản giàu có nhất ở Anh; Nghị viện thời kỳ đó đại diện cho ít hơn mười phần trăm của toàn dân cư. Nhiều nhà tự do kinh điển, trong đó có Mill, hết sức nghi ngờ những ưu việt của nền dân chủ: họ tin rằng việc tham gia vào chính trị một cách có trách nhiệm đòi hỏi có giáo dục và có một sự đặt cọc trong xã hội - tức là, sở hữu tư nhân. Cho đến cuối thế kỷ mười chín, hầu như trên khắp châu Âu quyền bầu cử bị giới hạn bởi những yêu cầu về tài sản và học vấn. Cuộc bầu cử Andrew Jackson làm tổng thống Mỹ năm 1828 và sau đó việc ông bãi bỏ yêu cầu về tài sản để bầu cử, ít nhất cho đàn ông da trắng, như vậy từ khá sớm đã đánh dấu một thắng lợi quan trọng cho một nguyên tắc dân chủ lành mạnh hơn.
Ở châu Âu, việc loại đại đa số dân cư ra khỏi quyền lực chính trị và sự lớn lên của giai cấp công nhân công nghiệp đã mở đường cho của nghiã Marx. Tuyên ngôn Cộng sản được công bố năm 1848, cùng một năm với các cuộc cách mạng lan rộng trên khắp các nước lớn châu Âu trừ nước Anh. Và như vậy bắt đầu một thế kỷ tranh quyền lãnh đạo phong trào dân chủ giữa những người cộng sản sẵn sàng vứt bỏ nền dân chủ hình thức (các cuộc bầu cử đa đảng) cho cái mà họ tin là dân chủ thực chất (phân phối lại về kinh tế), và những người dân chủ tự do, tin vào sự mở rộng quyền tham dự chính trị trong khi duy trì nền pháp trị bảo vệ các quyền cá nhân, trong đó có quyền sở hữu.
Tiếp theo sau là lòng trung thành của giai cấp công nhân công nghiệp mới. Những người Marxist buổi đầu tin rằng họ sẽ thắng hoàn toàn chỉ bằng sức mạnh của số lượng: khi quyền bầu cử được mở rộng ở thế kỷ mười chín, các đảng như đảng Lao động Anh (Công đảng) và đảng Dân chủ xã hội Đức đã lớn mạnh rất nhanh và đe dọa bá quyền của cả những người bảo thủ lẫn những người tự do truyền thống. Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân bị cản trở dữ dội, thường bằng các biện pháp không dân chủ; những người cộng sản và nhiều người xã hội chủ nghĩa, đến lượt mình, rời bỏ chế độ dân chủ hình thức và ủng hộ việc trực tiếp cướp chính quyền.
Trong suốt nửa đầu thế kỷ hai mươi, có sự nhất trí mạnh mẽ trong phái tả cấp tiến rằng một số hình thức của chủ nghĩa xã hội - sự kiểm soát của chính phủ chỉ huy những cao điểm kinh tế để đảm bảo sự phân phối quân bình của cải - là không tránh khỏi đối với tất cả các nước tiên tiến. Thậm chí một nhà kinh tế bảo thủ như Joseph Schumpeter cũng có thể viết trong cuốn sách của ông năm 1942, Chủ nghĩa tư bản, Chủ nghĩa xã hội và Dân chủ, rằng chủ nghĩa xã hội đã nổi lên thắng lợi bởi vì xã hội tư bản đang tự hủy hoại về mặt văn hóa. Chủ nghĩa xã hội được tin là đại diện cho ý chí và quyền lợi của đại đa số nhân dân trong các xã hội hiện đại.
Tuy rằng mặc dầu những cuộc xung đột tư tưởng của thế kỷ hai mươi diễn ra  trên bình diện chính trị và quân sự, chính những thay đổi cực kỳ quan trọng diễn ra trên bình diện xã hội đã hủy hoại kịch bản Marxist. Trước hết, mức sống thực tế của giai cấp công nhân công nghiệp tăng lên, đến một điểm mà nhiều công nhân hoặc con cái họ có khả năng gia nhập tầng lớp trung lưu. Thứ hai kích cỡ tương đối của giai cấp công nhân ngừng lớn lên và thực tế bắt đầu giảm xuống, đặc biệt trong nửa sau thế kỷ hai mươi, khi các dịch vụ bắt đầu thay thế sản xuất trong cái được mệnh danh là những nền kinh tế hậu-công nghiệp. Cuối cùng, một tầng lớp mới những người nghèo hoặc kém may mắn hình thành bên dưới giai cấp công nhân công nghiệp - một hỗn hợp lai tạp giữa các dân tộc, chủng tộc thiểu số, những người mới nhập cư, và những nhóm bị loại ra ngoài xã hội như phụ nữ, người đồng tính, và người khuyết tật. Kết quả của những thay đổi này, trong phần lớn những xã hội đã công nghiệp hóa, là giai cấp công nhân cũ đã trở thành nhóm lợi ích khác trong nước, sử dụng quyền lực chính trị của các công đoàn để bảo vệ những thành quả khó khăn lắm mới giành được của thời kỳ trước.
Hơn nữa, giai cấp kinh tế không biến thành một lá cờ lớn trong những nước công nghiệp tiên tiến để tập hợp dân chúng cho hoạt động chính trị. Quốc tế Thứ hai kêu gọi thức tỉnh năm 1914, khi giai cấp công nhân châu Âu vứt bỏ những lời kêu gọi đấu tranh giai cấp và sắp hàng đằng sau các lãnh tụ bảo thủ đưa ra những khẩu hiệu dân tộc chủ nghĩa, một mẫu hình vẫn còn đến ngày nay. Theo nhà học giả Ernest Gellner, nhiều người Marxist cố gắng giải thích điều này bằng cái mà ông gọi là "lý thuyết nhầm địa chỉ":
Đúng như những người Hồi giáo Shi'ite cho rằng Tổng thiên thần Gabrriel đã nhầm lẫn, chuyển Lời Phán truyền cho Mohamed mà lẽ ra phải truyền cho Ali, những người Marxist cũng vậy, về cơ bản thích nghĩ rằng tinh thần của lịch sử hay ý thức của loài người đã làm một chuyện khờ dại khủng khiếp. Thông điệp thức tỉnh định chuyển cho các giai cấp, nhưng do sai lầm khủng khiếp của bưu điện, lại bị trao cho các dân tộc.
Gellner tiếp tục lập luận rằng tôn giáo phục vụ một chức năng tương tự như chủ nghĩa dân tộc ở Trung Đông hiện đại: nó động viên nhân dân một cách hiệu quả bởi vì nó có nội dung tâm linh và cảm xúc mà ý thức giai cấp không có. Đúng như chủ nghĩa dân tộc châu Âu được thúc đẩy bởi sự di chuyển người Âu từ nông thôn ra thành thị vào cuối thế kỷ mười chín, cũng vậy, đạo Hồi là một phản động lực đối với quá trình đô thị hóa và di chuyển chỗ ở diễn ra trong các xã hội Trung Đông hiện đại. Bức thư của Marx sẽ không bao giờ được chuyển đến địa chỉ có dấu "giai cấp".
Marx tin rằng giai cấp trung lưu, hay ít nhất lớp có sở hữu tư bản của nó mà ông gọi là tư sản, sẽ luôn luôn vẫn là thiểu số nhỏ và đặc quyền đặc lợi trong các xã hội hiện đại. Nhưng điều xảy ra trong thực tế ngược lại, là tầng lớp tư sản và giai cấp trung lưu nói chung cuối cùng đã tạo thành đại đa số dân cư của các nước tiên tiến nhất, đang đặt ra những bài toán cho chủ nghĩa xã hội. Từ thời Aristotle, các nhà tư tưởng đã tin rằng nền dân chủ ổn định dựa trên một giai cấp trung lưu rộng lớn và rằng các xã hội có cực kỳ giàu sang và cực kỳ nghèo khổ thường dễ bị hoặc là bọn đầu sỏ chính trị thống trị hoặc cách mạng dân túy nổi lên. Khi phần lớn thế giới phát triển thành công trong việc tạo ra các xã hội của giai cấp trung lưu, thì lời kêu gọi của chủ nghĩa Marx biến mất. Nơi duy nhất phái tả cấp tiến vẫn tồn tại dai dẳng như một lực lượng mạnh là những vùng bất bình đẳng cao độ của thế giới, như những phần của châu Mỹ Latin, Nepal, và những vùng nghèo khổ bần cùng của đông Ấn Độ.
Cái mà nhà khoa học chính trị Samuel Huntington gọi là "đợt sóng thứ ba" của dân chủ hóa toàn cầu, bắt đầu từ miền Nam châu Âu trong những năm 1970 và lên đến cực điểm trong cuộc sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản trong những nước Đông Âu năm 1989, những nền dân chủ bầu cử tăng lên về số lượng trên khắp thế giới từ 45 trong năm 1970 lên 120 vào cuối những năm 1990. Tăng trưởng kinh tế đã dẫn đến sự xuất hiện của những giai cấp trung lưu mới ở các nước như Brazil. Ấn Độ, Indonesia, Nam Phi, và Thổ Nhĩ Kỳ. Như nhà kinh tế học Moisés Naím đã chỉ ra, những giai cấp trung lưu này tương đối có giáo dục tốt, có sở hữu tài sản, và được kết nối bằng công nghệ với thế giới bên ngoài. Họ đòi hỏi khắt khe các chính phủ của họ và động viên dễ dàng do kết quả của việc họ truy cập vào công nghệ. Không có gì đáng ngạc nhiên rằng những người châm ngòi chính cho những cuộc nổi dậy trong Mùa Xuân A Rập là những người Tunisia và Ai Cập có học vấn, mà hy vọng về việc làm và sự tham dự chính trị của họ đã bị các chế độ độc tài trong đó họ sống ngăn trở.
Những người thuộc tầng lớp trung lưu không nhất thiết ủng hộ dân chủ về nguyên tắc: giống như những người khác, họ là những người hoạt động tự lợi chỉ muốn bảo vệ tài sản và địa vị của mình. Trong những nước như Trung Hoa và Thái Lan, nhiều người thuộc giai cấp trung lưu cảm thấy bị đe dọa bởi yêu sách đòi phân phối lại của người nghèo và vì vậy họ liên kết lại trong việc ủng hộ các chính phủ độc tài bảo vệ các lợi ích giai cấp của họ. Cũng không phải các nền dân chủ nhất thiết đáp ứng những mong đợi của các giai cấp trung lưu của chúng, và khi chúng không đáp ứng được, thì giai cấp trung lưu có thể trở nên cứng cổ.

CÁI THAY THẾ ĐỠ TỆ NHẤT?
Ngày nay có một sự nhất trí rộng rãi trên thế giới về tính hợp pháp, ít nhất về nguyên tắc, của nền dân chủ tự do. Theo lời nhà kinh tế Amartya Sen, "Trong khi nền dân chủ vẫn chưa được thực hiện một cách phổ biến, và thực ra cũng chưa được chấp nhận đồng đều ở mọi nơi, trong khí hậu chung của dư luận thế giới, sự cai quản [xã hội, một cách] dân chủ ngày nay đã đạt đến trạng thái nói chung được coi là đúng." Nó được thừa nhận rộng rãi nhất ở những nước đã đạt được mức độ phồn vinh vật chất đủ để cho phép một đa số công dân nghĩ họ thuộc về giai cấp trung lưu, đó là lý do tại sao có một xu hướng tương liên giữa các mức độ của phát triển và nền dân chủ ổn định. 
Một số xã hội, như Iran và A Rập Saudi, bác bỏ nền dân chủ tự do để ủng hộ một hình thức chính trị thần quyền Hồi giáo. Tuy nhiên những chế độ này đã lâm vào ngõ cụt về phương diện phát triển, chúng chỉ sống được nhờ ở trên một mỏ dầu vĩ đại. Một thời A Rập đã lả một ngoại lệ lớn đối với đợt sóng thứ ba, nhưng Mùa Xuân A Rập đã cho thấy rằng công chúng A Rập cũng có thể sẵn sàng được động viên chống độc tài như ở Đông Âu và châu Mỹ Latin một thuở. Tất nhiên điều đó không có nghĩa rằng con đường đi tới một nền dân chủ vận hành tốt ở Tunusia, Ai Cập, hay Libya sẽ dễ dàng hoặc không có khúc mắc, nhưng nó gợi cho thấy rằng khao khát tự do và tham dự chính trị không phải là nét riêng đặc biệt của người Âu hoặc người Mỹ.
Thách thức nghiêm trọng duy nhất đối với nền dân chủ tự do ngày nay đến từ Trung Hoa, nó kết hợp chính phủ độc tài với một nền kinh tế thị trường hóa một phần. Trung Hoa được thừa kế một truyền thống lâu dài và tự hào về chính phủ quan liêu chất lượng cao,  một truyền thống có độ dài hai thiên niên kỷ. Các lãnh đạo của nó đã cố gắng làm được một cuộc chuyển đổi cực kỳ phức tạp từ một nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa theo phong cách Xô viết thành một nền kinh tế mở năng động và đã làm việc đó một cách tài giỏi xuất sắc  - nói thẳng ra, tài giỏi hơn các lãnh đạo Mỹ đã bộc lộ trong việc quản lý chính sách kinh tế vĩ mô của họ thời gian gần đây. Hiện nay nhiều người khâm phục chế độ Trung Hoa không chỉ vì kỷ lục kinh tế của nó mà còn vì nó có thể làm những quyết định lớn, phức tạp một cách nhanh chóng, so với chứng tê liệt khổ sở về chính sách đang hành hạ cả Mỹ và châu Âu trong mấy năm qua. Đặc biệt từ cuộc khủng hoảng tài chính gần đây, bản thân người Trung Hoa đã bắt đầu chào mời "mô hình Trung Hoa" như vật thay thế cho nền dân chủ tự do.
Tuy nhiên, mô hình này thậm chí không dễ trở thành một vật thay thế nghiêm chỉnh cho nền dân chủ tự do trong các khu vực ngoài Đông Á. Nhưng ban đầu, mô hình này là đặc biệt về phương diện văn hóa: chính phủ Trung Hoa được xây dựng quanh một truyền thống lâu dài về tuyển mộ nhân tài, những cuộc thi công chức, nhấn mạnh cao độ đến giáo dục và sự tôn sùng thẩm quyền kỹ trị. Rất ít nước đang phát triển có thể hy vọng cạnh tranh với mô hình này, những nước như Singapore và Nam Triều Tiên (ít nhất trong thời kỳ đầu ) thì đã nằm bên trong khu vực văn hóa Trung Hoa rồi. Bản thân người Trung Hoa cũng nghi ngờ không biết liệu mô hình của họ có thể xuất khẩu được không; cái gọi là nền chính trị nhất trí của Bắc Kinh là một sáng tác của Phương Tây, không phải của Trung Hoa.
Cũng chưa rõ liệu mô hình này có thể duy trì được mãi không. Cả sự tăng trưởng lấy xuất khẩu làm động lực, lẫn quan điểm quyết định từ-trên-xuống cũng không tiếp tục gặt hái những kết quả tốt đẹp mãi được. Sự kiện chính phủ Trung Hoa không cho phép thảo luận công khai về tai nạn thảm khốc của đường sắt cao tốc mùa hè qua và không thể qui trách nhiệm cho Bộ Đường sắt về tai nạn này cho thấy còn có những quả bom giờ khác ẩn phía sau mặt tiền của vấn đề ra quyết định một cách hiệu quả.
Cuối cùng, Trung Hoa rốt cuộc se phải đối mặt với chỗ yếu lớn về mặt đạo đức. Chính phủ Trung Hoa không bắt buộc các quan chức của nó tôn trọng phẩm giá cơ bản của các công dân. Hàng tuần, có những cuộc biểu tình mới về cướp đất, xâm phạm môi trường, hoặc tham nhũng trắng trợn ở một số quan chức. Trong khi đất nước lớn lên nhanh chóng, những sự lạm dụng này có thể được quét dấu xuống dưới tấm thảm. Nhưng tăng trưởng nhanh chóng sẽ không kéo dài vĩnh viễn, và chính phủ sẽ phải trả giá cho sự phẫn nộ bị đè nén. Chế độ không còn có bất kỳ một lý tưởng chủ đạo nào làm tâm điểm để tổ chức nó; nó được điều khiển bởi một đảng cộng sản được cho là phấn đấu cho bình đẳng nhưng đang chủ trì một xã hội biểu lộ sự bất bình đẳng gay gắt và ngày càng lớn.
Như vậy sự ổn định của chế độ Trung Hoa không hề là chuyện đương nhiên. Chính phủ Trung Hoa lập luận rằng các công dân của nó là khác về mặt văn hóa và sẽ luôn luôn ưa thích một nền độc tài nhân từ và khuyến khích tăng trưởng hơn là một nền dân chủ hỗn loạn nó đe dọa sự ổn định xã hội. Nhưng không có gì chắc rằng một giai cấp trung lưu đang mở rộng sẽ hành xử ở Trung Hoa hoàn toàn khác với cách nó hành xử ở các nơi khác trên thế giới. Các chế độ độc tài khác có thể tranh đua với thành công của Trung Hoa, nhưng ít có cơ hội để phần lớn thế giới 50 năm sau sẽ giống Trung Hoa ngày nay.

TƯƠNG LAI CỦA DÂN CHỦ
Có một tương quan rộng lớn giữa sự tăng trưởng kinh tế, thay đổi xã hội và vai trò bá chủ của hệ tư tưởng dân chủ tự do trong thế giới ngày nay. Và tại thời điểm này, không có hệ tư tưởng nào đáng là đối thủ xuất hiện. Nhưng một vài xu hướng rắc rối trong kinh tế xã hội, nếu tiếp tục, sẽ đe dọa sự ổn định của các nền dân chủ tự do hiện  thời và hạ bệ hệ tư tưởng dân chủ như nó được hiểu ngày nay.
Nhà xã hội học Barrington Moore có lần đã khẳng định một cách cường điệu, "Không có giai cấp tư sản thì không có dân chủ." Những người Marxist đã không đạt được xã hội cộng sản không tưởng của họ bởi vì chủ nghĩa tư bản chín muồi sẽ sinh ra các xã hội của giai cấp trung lưu, không phải các xã hội của giai cấp công nhân. Nhưng nếu sự phát triển hơn nữa của công nghệ và toàn cầu hóa làm xói mòn giai cấp trung lưu và khiến cho chỉ có một thiểu số công dân trong một xã hội tiên tiến đạt được địa vị trung lưu, thì sao?
Có thừa thãi những dấu hiệu cho thấy một giai đoạn phát triển như thế đã bắt đầu. Thu nhập trung bình ở Mỹ trong thực tế đã ngừng tăng tiến từ những năm 1970. Tác động kinh tế của sự ngừng trệ này đã được mềm đi đến một mức độ nhất định nhờ sự kiện là phần lớn gia đình Mỹ ở thế hệ trước đã chuyển sang mô hình trong một nhà hai người có thu nhập. Hơn nữa, như nhà kinh tế Raghuram Rajan đã lập luận một cách thuyết phục, vì người Mỹ rất không muốn ủng hộ việc phân phối lại một cách minh bạch, nên thay vì thế Mỹ đã thử một hình thức phân phối lại rất nguy hiểm và không hiệu quả trong thế hệ trước bằng cách trợ cấp tiền thế chấp cho những gia đình thu nhập thấp. Xu hướng này, thực hiện được nhờ một trận lụt thanh toán tiền mặt từ Trung Hoa và các nước khác rót vào đã làm cho nhiều người dân bình thường của Mỹ ảo tưởng rằng mức sống của họ được nâng lên đều đều trong thập kỷ qua. Trong khía cạnh này, việc chiếc bong bóng nhà ở nổ năm 2008-2009 không có gì khác hơn là sự quay trở lại mức nghèo khổ. Những người dân Mỹ ngày nay có thể được lợi từ những chiếc điện thoại di động giá rẻ, quần áo rẻ, và Facebook, nhưng họ ngày càng không thể có nhà riêng, hay bảo hiểm y tế, hay lương hưu dễ chịu khi họ về hưu.
Một hiện tượng khó chịu khác, do nhà tư bản táo bạo Peter Thiel và nhà kinh tế học Tyler phát hiện, là lợi ích từ những đợt sóng gần đây nhất của đổi mới công nghệ đã đổ dồn một cách không cân xứng vào những thành viên tài năng nhất và học vấn cao của xã hội. Hiện tượng này giúp gây ra sự gia tăng ồ ạt tình trạng bất bình đẳng ở Mỹ trong thế hệ qua. Trong năm 1974, một phần trăm số gia đình giầu nhất chiếm chín phần trăm GDP; năm 2007, phần chiếm đó đã tăng lên 23,5 phần trăm.
Các chính sách thương mại và thuế cũng có thể đã tăng tốc theo xu hướng này, nhưng kẻ có tội ở đây là công nghệ. Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa - thời đại của những máy dệt, than, thép, và động cơ đốt trong - lợi ích của thay đổi công nghệ hầu như luôn luôn chảy xuôi một cách đáng kể xuống phần còn lại của xã hội về phương diện làm thuê [tức xuống những người làm thuê-ND]. Nhưng đây không phải là một quy luật tự nhiên. Ngày nay chúng ta đang sống trong cái mà nhà học giả Shoshana Zuboff gọi là "thời đại của cỗ máy thông minh," trong đó công nghệ ngày càng có khả năng thay thế nhiều hơn và cao hơn những chức năng của con người. Một tiến bộ lớn đối với Thung lũng Silicon thường có ý nghĩa là sự mất việc của những tay nghề thấp ở một nơi nào khác trong nền kinh tế, một xu hướng không có vẻ gì sẽ sớm kết thúc.
Bất bình đẳng đã luôn tồn tại, như kết quả của sự khác nhau tự nhiên về tài năng và tính cách. Nhưng thế giới công nghệ ngày nay đã phóng đại quá lớn những sự khác nhau đó. Trong xã hội nông nghiệp thế kỷ mười chín, những người cực kỳ giỏi toán không có mấy cơ hội để biến tài năng của mình thành tiền. Ngày nay, họ có thể trở thành những phù thủy tài chính hoặc những kỹ sư phần mềm và đưa về nhà mình những phần tài sản quốc gia ngày càng lớn.
Nhân tố khác làm xói mòn thu nhập của giai cấp trung lưu trong các nước phát triển là toàn cầu hóa. Với sự giảm chi phí vận tải và truyền thông, và hàng trăm triệu lao động mới trong các nước đang phát triển đi vào thị trường nhân công thế giới, loại công việc ngày trước trong các nước phát triển do giai cấp trung lưu cũ làm thì bây giờ có thể được thực hiện rẻ hơn nhiều ở nơi khác. Dưới một mô hình kinh tế dành ưu tiên cho việc kiếm cho được thu nhập tổng tối đa, thì cảnh công việc mình vẫn làm bị giao cho người khác là chuyện không tránh khỏi.
Những ý tưởng và chính sách thông minh hơn có thể đã chứa sự bù trừ. Đức đã thành công trong việc bảo vệ phần lớn cơ sở chế tạo của nó và nhân công công nghiệp ngay cả khi các công ty vẫn cạnh tranh toàn cầu. Mặt khác Mỹ và Anh đã vui vẻ hoan nghênh việc chuyển sang nền kinh tế dịch vụ hậu công nghiệp. Tự do thương mại đã trở thành ít tính lý thuyết hơn một hệ tư tưởng: khi các thành viên của Quốc hội Mỹ cố gắng trả đũa bằng những đòn trừng phạt chống Trung Hoa vì đã giữ đồng tiền của nó thấp hơn giá trị thực, họ đã bị căm phẫn lên án là duy trì chủ nghĩa bảo hộ, cứ như thể sân chơi đã ngang bằng. Có nhiều cuộc đàm thoại vui vẻ về những điều kỳ diệu của nền kinh tế trí thức, và những công việc chế tạo bẩn thỉu, nguy hiểm chắc chắn sẽ được thay thế bởi những công nhân có học vấn cao làm những công việc sáng tạo và thú vị như thế nào. Đây là những chiếc khăn voan mỏng che trên những sự kiện thô của quá trình giảm công nghiệp hóa. Nó bỏ qua sự kiện là những lợi ích của trật tự mới dồn một cách không cân xứng vào một số rất nhỏ những người trong lĩnh vực tài chính và công nghệ cao, những lợi ích chi phối giới truyền thông và cuộc đàm luận chính trị chung.

PHÁI TẢ VẮNG MẶT
Một trong những đặc điểm khó hiểu nhất của thế giới sau cuộc khủng hoảng tài chính là cho đến nay, chủ nghĩa dân túy chủ yếu đã mang hình thức phái hữu, không phải tả.
Ở Mỹ chẳng hạn, mặc dầu Đảng Trà là chống đặc quyền đặc lợi trong những tuyên bố hùng hồn của nó, các thành viên của nó bầu cho các chính khách bảo thủ là những kẻ phục vụ cho đúng giới tài chính đó và những tập đoàn đặc quyền đặc lợi mà họ tuyên bố khinh miệt. Có nhiều cách giải thích cho hiện tượng này; trong đó có niềm tin sâu xa vào bình đẳng cơ hội hơn là bình đẳng kết quả, và sự kiện là các vấn đề văn hóa, như phá thai và quyền sử dụng súng, cắt ngang qua các vấn đề kinh tế.
Nhưng lý do sâu xa hơn một phái tả dân túy có cơ sở rộng rãi đã thất bại trong hoạt động thực tế là một lý do về trí tuệ. Đã nhiều thập kỷ nay chẳng có ai trong phái tả có khả năng nói lên, trước hết, một phân tích mạch lạc những gì đang xảy ra trong cấu trúc của các xã hội tiên tiến khi họ tiến hành cải cách kinh tế và thứ hai, một chương trình hành động hiện thực có bất kỳ hy vọng nào bảo vệ một xã hội giai cấp trung lưu.
Các xu hướng chủ yếu trong tư duy cánh-tả trong hai thế hệ qua, nói thẳng ra, là thảm hại hoặc trong khuôn khổ khái niệm hoặc là công cụ vận động. Chủ nghĩa Marx đã chết nhiều năm trước đây, và một ít tín đồ cũ vẫn còn đây đó thì cũng đã sẵn sàng vào nhà an dưỡng. Phái tả kinh viện thay thế nó bằng chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa đa văn hóa, chủ nghĩa nữ quyền, lý thuyết phê bình và một mớ những xu hướng trí thức rời rạc khác tập trung nhiều về văn hóa hơn là kinh tế.
Chủ nghĩa hậu hiện đại bắt đầu với việc phủ nhận khả năng của bất kỳ một đại tự sự nào về lịch sử hoặc xã hội, đang giảm bớt uy quyền của nó như một tiếng nói phát ngôn cho đa số công dân, những người cảm thấy bị tầng lớp đặc quyền đặc lợi phản bội. Chủ nghĩa đa văn hóa công nhận tình trạng nạn nhân của hầu như mọi người ngoài nhóm. Không có khả năng tạo ra một phong trào quần chúng tiến bộ trên cơ sở một liên minh pha tạp như thế, phần lớn các công dân thuộc giai cấp lao động và trung-lưu-lớp-dưới bị thiệt thòi trong hệ thống này là những người bảo thủ về văn hóa và có thể bối rối ngượng ngùng khi bị nhìn thấy có mặt trong những liên minh như thế.
Dù biện minh nào về mặt lý thuyết nằm bên dưới chương trình hành động của phái tả, vấn đề lớn nhất của nó là thiếu tín nhiệm. Trong hai thế hệ qua, phái tả dòng chính đã theo một chương trình dân chủ xã hội tập trung vào việc nhà nước cung cấp các dịch vụ khác nhau như lương hưu, chăm sóc sức khỏe, và giáo dục. Mô hình đó ngày nay đã hết sức sống: các hệ thống phúc lợi xã hội đã phình to, trở nên quan liêu và xơ cứng, chúng thường bị tước đoạt bởi chính những cơ quan quản lý chúng thông qua những nghiệp đoàn khu vực công; và quan trọng hơn cả, chúng không thể trụ được về mặt tài chính, vì lý do dân số già đi hầu như ở khắp nơi trong những nước phát triển. Như vậy, khi các đảng dân chủ xã hội hiện có lên nắm chính quyền, họ không còn khao khát gì hơn là làm một người coi giữ hệ thống phúc lợi xã hội được tạo ra cách đây nhiều thập kỷ; không đảng nào có một chương trình hành động mới đầy hứng khởi để tập hợp quần chúng xung quanh nó.

MỘT HỆ TƯ TƯỞNG CỦA TƯƠNG LAI
Ta hãy thử tưởng tượng một chút, một nhà văn xoàng xĩnh vô danh hôm nay trong một gian gác xép ở đâu đó cố vạch ra một hệ tư tưởng của tương lai có thể cho một con đường hiện thực dẫn tới một thế giới với những xã hội giai cấp trung lưu giàu có và những nền dân chủ tráng kiện. Hệ tư tưởng ấy trông sẽ thế nào nhỉ?
Nó sẽ phải có ít nhất hai thành phần, chính trị và kinh tế. Về chính trị, hệ tư tưởng mới này sẽ cần tái khẳng định vai trò tối cao của nền chính trị dân chủ đối với kinh tế và chính phủ hợp pháp như một biểu hiện của lợi ích công cộng. Nhưng chương trình hành động mà nó đưa ra để bảo vệ đời sống của giai cấp trung lưu không thể đơn giản dựa trên các cơ chế hiện có của hệ thống phúc lợi xã hội. hệ tư tưởng này sẽ cần thiết kế lại cách nào đó khu vực công, giải thoát nó khỏi sự phụ thuộc vào những kẻ giữ tiền đặt cược hiện thời, và sử dụng những quan điểm mới được công nghệ hỗ trợ để trao những dịch vụ. Nó cũng phải thẳng thắn tranh cãi cho việc phân phối lại và trình bày một con đường hiện thực để kết liễu sự áp đảo trong chính trị của các nhóm lợi ích.
Về kinh tế, hệ tư tưởng này không thể bắt đầu bằng một sự lên án chủ nghĩa tư bản hiểu theo cách thông thường, như thể chủ nghĩa xã hội lỗi thời vẫn còn là một sự thay thế có thể đứng vững. Nó đề cập nhiều hơn đến tính đa dạng của chủ nghĩa tư bản đang lâm nguy và mức độ mà các chính phủ nên giúp đỡ các xã hội điều chỉnh để thay đổi. Toàn cầu hóa không nên xem như một sự kiện không thể lay chuyển được của đời sống mà nên coi như một thách thức và một cơ hội có thể được kiểm soát cẩn thận về mặt chính trị. Hệ tư tưởng mới sẽ không coi các thị trường như mục đích tự thân, trái lại, nó nên coi trọng thương mại và đầu tư toàn cầu trong chừng mực chúng đóng góp vào sự thịnh vượng của giai cấp trung lưu, không chỉ vào việc làm tăng nguồn của cải quốc gia.
Tuy nhiên, không thể đạt đến điểm này nếu không cung cấp một phê phán nghiêm chỉnh và liên tục đối với phần lớn lâu đài của môn kinh tế học tân cổ điển hiện đại, bắt đầu bằng những giả thiết cơ bản như quyền tối thượng của sở thích cá nhân và thu nhập tổng thể là một phép đo chính xác nguồn phúc lợi quốc gia. Phê phán này phải lưu ý rằng thu nhập của người dân không nhất thiết biểu hiện sự đóng góp thật sự của họ cho xã hội. Tuy nhiên, nó còn phải đi xa hơn, và nhận ra rằng ngay cả nếu thị trường lao động là có hiệu quả, thì sự phân phối tự nhiên của các tài năng không nhất thiết công bằng và rằng các cá nhân không phải là những thực thể hoàn toàn có chủ quyền, mà là những con người bị định hướng mạnh bởi các xã hội bao quanh họ.
Phần lớn những tư tưởng này đã tồn tại đây đó trong những mảnh, những mẩu vụn trong một thời gian nào đó; nhà văn xoàng kia chỉ cần đưa chúng vào một đoạn văn mạch lạc. Ông ta hoặc bà ta còn phải tránh vấn đề "nhầm địa chỉ". Tức là, phê phán toàn cầu hóa phải gắn với chủ nghĩa dân tộc như một chiến lược để vận động theo cách xác định quyền lợi của dân tộc một cách phức tạp hơn, chẳng hạn, các chiến dịch "mua hàng  Mỹ" của các công đoàn ở Mỹ. Sản phẩm sẽ là một tổng hợp các tư tưởng từ cả hai phía tả và hữu, tách rời khỏi chương trình hành động của các nhóm ngoại biên tạo thành phong trào tiến bộ hiện nay. Hệ tư tưởng này là dân túy; thông điệp này bắt đầu bằng một phê phán tầng lớp đặc quyền đặc lợi hy sinh lợi ích của nhiều người cho một thiểu số, và một phê phán chính sách tiền tệ, đặc biệt ở Washington, chủ yếu làm lợi cho những người giàu có.
Những nguy cơ cố hữu trong một phong trào như thế là rõ ràng: Khi Hoa Kỳ, nói riêng, rút lui khỏi sự ủng hộ một hệ thống toàn cầu cởi mở hơn có thể khiến những người theo chủ nghĩa bảo hộ phản ứng lại ở những nơi khác. Trong nhiều khía cạnh, cuộc cách mạng Reagan-Thatcher được kế tục đúng như những người đề xướng nó mong đợi, mang lại một thế giới cạnh tranh ngày càng tăng, toàn cầu hóa, không va chạm. Trên con đường đó, nó tạo ra vô vàn của cải và tạo ra một giai cấp trung lưu lớn lên trên khắp thế giới phát triển, và kéo theo sau nó sự lan rộng của dân chủ. Có khả năng là thế giới phát triển đang trên đỉnh của một loạt đột phá công nghệ không chỉ làm tăng sản xuất mà còn cung cấp việc làm cho số lớn người của giai cấp trung lưu.
Nhưng đó là vấn đề niềm tin hơn là một phản ánh của thực tế kinh nghiệm của 30 năm qua, nó chỉ vào hướng ngược lại. Thật ra có nhiều lý do để nghĩ rằng bất bình đẳng sẽ tiếp tục tệ hại hơn. Sự tập trung của cải ở Mỹ hiện nay đã biến thành tự củng cố: như nhà kinh tế Simon Johnson lập luận, khu vực tài chính sử dụng thủ đoạn vận động hành lang của nó để tránh các hình thức điều tiết phiền hà hơn. Các trường học cho tầng lớp khá giả tốt hơn bao giờ hết, những trường học dành cho những người khác tiếp tục xuống cấp.  Giới đặc quyền đặc lợi trong mọi xã hội sử dụng ưu thế của họ gia nhập vào hệ thống chính trị để bảo vệ các quyền lợi của họ thiếu vắng một sự vận động dân chủ cân bằng lại để sửa chữa tình hình này. Giới đặc quyền đặc lợi Hoa Kỳ cũng không là ngoại lệ của qui tắc này.
Tuy nhiên, cuộc vận động sẽ không xảy ra chừng nào giai cấp trung lưu của các nước phát triển vẫn còn mê mệt với câu chuyện kể của thế hệ trước: rằng các quyền lợi của họ sẽ được phục vụ tốt nhất bởi thị trường ngày càng tự do hơn và các nhà nước ngày càng nhỏ đi. Câu chuyện thay thế đã có rồi, đang chờ để bước ra đời.

Những gốc rễ thật sự của Khai sáng


DARRIN M. McMAHON
New York Times 25/12/2011
HIẾU TÂN dịch
Darrin M. McMahon, giáo sư lịch sử tại Đại học Florida giới thiệu sách của J.I Israel về Khai sáng

Trong mấy thập kỷ gần đây, Jonathan I. Israel viết, Khai sáng đã nổi lên như một chủ đề quan trọng nhất, có tính chất quốc tế trong nghiên cứu lịch sử, và một trong những ý nghĩa then chốt cả trong nghiên cứu văn hóa, chính trị và triết học của chúng ta. "Đó là một khẳng định lớn về một phong trào tư tưởng của thế kỷ 18, và nhiều người sẽ thấy nó là cường điệu, nếu không nói là ích kỷ, khi biết rằng tác giả của nó, một giáo sư lịch sử ở Viện Nghiên cứu Cao cấp ỏ Princeton, đã dành cả thập niên cuối cùng của đời ông để khảo sát chính chủ đề này".
 
Tuy nhiên, trong bối cảnh sự trỗi dậy của tôn giáo trên toàn thế giới và cuộc chiến tranh chống khủng bố, Khai sáng đã trở thành một điềm báo đầy ân sủng của thời đại chúng ta, thay thế cho những đối thủ cạnh tranh khô cằn như Phục hưng, Cải cách và Cách mạng Nga. Nói trước Quốc hội Anh hồi tháng Năm, tổng thống Obama viện dẫn "những lý tưởng của phong trào Khai sáng" như kho báu của những giá trị hiện đại. Những người khác không đồng ý, coi phong trào này như nguồn gốc những căn bệnh hiện đại, từ vô tôn giáo đến bá quyền của phương Tây, đến chuyên chế của lý trí. Trong những sách đọc này, Khai sáng có giá trị như chương mở đầu thú vị trong một cuốn sách những câu chuyện mà chúng ta kể về bản thân chúng ta.

Trong chuyện kể của Israel, câu chuyện diễn ra như thế này: cách đây không lâu, thế giới sống trong nhật thực gần toàn phần. Đàn ông đàn bà dò dẫm trong bóng tối, và trong sự ngu dốt và nỗi sợ hãi của họ họ tin vào mọi tập quán mê tín dị đoan và bất công - Thượng đế và các thiên thần, giới quí tộc và quyền hành thiêng liêng của nhà vua, đế chế và chế độ nô lệ; và sự áp bức phụ nữ, người da màu và người nghèo. Nhưng rồi, in tenebris lux [trong bóng tối lóe lên ánh sáng], một số ít các nhà triết học can đảm tiến lên phía trước. làm tỏa rộng lý trí, sự khoan dung, một tình yêu tự do và nhân đạo, họ đã thúc đẩy một cuộc cách mạng của trí tuệ, đưa thế giới lên tiến trình hiện đại của nó. 

Nếu câu chuyện này nghe có vẻ quen thuộc, thì nó như thế đấy. Những người đàn ông và đàn bà của thế kỷ mười tám cũng nói như thế về bản thân họ cho dù kẻ thù của họ chỉ trích những ánh sáng của họ là giả. Những người ủng hộ và những mgười phản đối tiếp tục trận đấu trong thế kỷ 19, tạo ra "Khai sáng" như một phạm trù lịch sử được công nhận. Tại những thời điểm chuyển tiếp của thế kỷ 20, sau các cuộc Thế Chiến I và II và trong những năm 1960. khi số phận của nền văn minh dường như lâm vào thế hiểm nghèo và bi đát, các nhà phê bình lại quay về với Khai sáng như một tấm da cừu mà số phận của chúng ta được đọc ra và viết lên trên đó .

Câu chuyện kể của Israel như vậy là một phần câu chuyện đã được kể trước đây, mặc dầu trong gần 3000 trang  của bộ ba Khai sáng, trong đó Khai sáng Dân chủ là tập cuối, ông đã cho nó một diện mạo hơi khác. Trong khi các nhà sử học trong những năm gần đây đã nhấn mạnh tôn giáo và Khai sáng thường đi đôi với nhau như thế nào, Israel liệt sự chung sống dễ dàng ấy vào một phái "Khai sáng Ôn hòa" chắc chắn thuộc giai tầng thứ hai. Những tên tuổi lớn mà chúng ta học ở trường — Voltaire và Rousseau, Newton và Locke, Leibniz và Kant — hóa ra chưa bao giờ sẵn sàng hoặc suy nghĩ thấu đáo về thời đại mới. Những anh hùng thực sự của Israel là các nhà vô thần không khoan nhượng, các nhà duy vật và các nhà cách mạng không chịu thỏa hiệp với hiện trạng.
 
Israel lần tìm dấu vết về dòng dõi của phái Khai sáng Cấp tiến này tới tận Baruch Spinoza, nhà triết học thế kỷ 17, cha đẻ của tất cả các nhà vô thần và các nhà duy vật "nhất nguyên" những người đã vứt bỏ thuyết nhị nguyên duy linh có tính chất hoài nghi về trí tuệ và thân xác. Spinoza chắc chắn là nhà phê bình triệt để Kinh Thánh, người phủ nhận phép lạ và dường như đánh đồng "Thượng đế" với tự nhiên. Nhưng quan điểm gây nhiều tranh cãi của Israel, một "trọn gói' các giá trị hiện đại bật ra từ cái đầu của Spinoza - đã hình thành đầy đủ như Athena bật ra từ cái đầu của Zeus - gồm cả bình đẳng, dân chủ và một kinh cầu nguyện của các quyền cơ bản của con người. Được kế tục bởi hàng loạt những môn đồ kiên định, "chủ nghĩa Spinoza" âm thầm lan ra toàn châu Âu, thách thức và làm bối rối những người ôn hòa cho đến khi bung ra công khai vào giữa thế kỷ 18.
 
Ở nhà Bách khoa Pháp Denis Diderot và các đồng minh người Paris của ông, Nam tước d’Holbach, Claude Helvétius và Linh mục Raynal, Israel thấy những người kế tục chân chính của Spinoza. Tuyên bố "toàn bộ trật tự xã hội hiện tồn là bất công", họ hình thành một nhóm "các nhà cách mạng có ý thức, có chủ trương.. . chuẩn bị nền cho cách mạng."

Mặc dầu các nhà phê bình hai tập đầu phàn nàn rằng Israel chỉ đọc Spinoza ở dạng thu gọn, rằng sự phân chia của ông giữa những người Cấp tiến và Ôn hòa là quá cứng nhắc, và rằng "chủ nghĩa Spinoza" là một "trọn gói" hiếm và đơn giản, ngay cả những kẻ chỉ trích ông một cách gay gắt nhất cũng kinh ngạc về học vấn uyên bác và tầm nhìn xa trông rộng của ông. Những phẩm chất ấy được biểu lộ hết sức phong phú ở đây, và ông theo dõi vận mệnh của những tư tưởng cấp tiến trên khắp châu Âu và vang xa đến tận các phong trào độc lập của Mỹ Latin và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc châu Âu ở châu Á. Làm việc với một nghị lực lớn, Israel đã lật ngược bằng chứng về ảnh hưởng của phái Khai sáng Cấp tiến ở những nơi đáng ngạc nhiên, và lao động miệt mài một mình để cuối cùng bảo đảm rằng cuốn sách này sẽ tìm thấy chỗ của nó trên giá sách cúa mọi chuyên gia.

Tuy nhiên nếu phần miêu tả là dày, thì phần kể lại thường mỏng, đọc toàn bộ rất hay lặp lại giống như một câu chuyện âm mưu. Chúng ta được nghe kể rằng, phái Khai sáng Cấp tiến là những người "duy nhất quan trọng trực tiếp gây ra Cách mạng Pháp" và các lãnh tụ cách mạng 1789 tự bản thân họ là "một mẻ nhỏ của các nhà cách mạng- triết gia" làm nên những thói quen tư duy. Đây là một giải thích mà các nhà sử học về Cách mạng sẽ bác bỏ thẳng thừng còn những kẻ thù của Khai sáng sẽ tán thành một cách rộng rãi. Israel, với uy tín lớn của ông, đã nghiên cứu rất sâu trong tác phẩm của mình và thường xuyên viện dẫn chúng. Nhưng tái tạo những yêu sách Phản-Khai sáng như chứng cứ về ảnh hưởng của triết học chẳng khác nào đánh giá sức mạnh của chủ nghĩa cộng sản ở Hoa Kỳ trên cơ sở những báo cáo của Ủy ban điều tra của Quốc hội về các hành động chống Mỹ (HCUA). Ở đoạn kết, Israel đã phóng đại quá lớn ảnh hưởng của những người vô thần và chủ nghiã Spinoza, gán cho nó mục đích và tầm nhìn xa mà nó không có. Đó là phát hiện rằng khi Raynal đối đầu với bản thân cách mạng (Diderot, Holbach và Helvétius, những người đã chấp nhận nghi lễ an táng của nhà thờ, lúc đó đã chết), ông đã không thích những điều trông thấy. Không có gì đáng ngạc nhiên, vì như Israel đã miễn cưỡng thừa nhận, phái Khai sáng Cấp tiến có xu hướng đối xử với phần thấp kém hơn của nhân loại, những kẻ ngập trong mê tín, một cách khinh miệt.  Cuộc cách mạng của trí tuệ tốt hơn nên dừng tại đấy.

Tuy nhiên, đối với Israel, cũng như đối với các chiến sĩ trong hơn 200 năm qua, cuộc chiến đấu vẫn tiếp tục. Israel vung tiêu chuẩn của chân lý của phái Khai sáng Cấp tiến trước cả những người theo trào lưu chính thống lẫn những người hậu hiện đại. Nhưng trong sự lặp lại cái ngôn ngữ dứt khoát của nó (các nhà phê bình bị bác bỏ như "hoàn toàn sai"  và "sai cơ bản") và từ chối thừa nhận rằng phong trào này có bất kỳ vùng cấm nào, Israel làm ta nhớ đến một truyền thống cũng cố chấp như bất kỳ một tín ngưỡng nào.

Đã đến lúc tiến lên chưa? Những người đàn ông đàn bà ở Quảng trường Tahrir không cần đến một chủ nghĩa duy vật nhất nguyên nào để giải thoát bản thân họ khỏi chế độ chuyên quyền. Và mặc dầu họ có thể cần đến một chút khai sáng trước khi nói và làm, kinh nghiệm của họ gợi ý rằng phép biện chứng của ánh sáng và bóng tối được trang bị kém để nắm bắt những bóng xám của cái hiện đại. Nhà sử học François Furet có lần đã tuyên bố rằng Cách mạng Pháp đã "xong" rồi, nghĩa là đã đến lúc thôi đừng nhắc lại những trận đánh của nó và chiến đấu những trận chiến đấu của nó để hiểu nó và hiểu chúng ta tốt hơn. Cuốn lịch sử lớn của Israel giúp chúng ta thấy rằng, theo nghĩa này, Khai sáng cũng đã xong rồi. Chúng ta đã sẵn sàng cho một câu chuyện khác.




















Chủ nghĩa xã hội Anh đầu thế kỷ 20


Chủ nghĩa xã hội : nguyên lý và quan điểm 

GEORGE BERNARD SHAW
(Socialism : Principles and Outlook)


HIẾU TÂN dịch


Chủ nghĩa xã hội, rút gọn đến những khẩu hiệu đơn giản nhất và biểu hiện thực tiễn của nó, có nghĩa là xoá bỏ hoàn  toàn  chế độ tư hữu tài sản bằng cách chuyển nó thành công hữu, và phân phối thu nhập bình quân không phân biệt trong toàn thể dân chúng. Như vậy nó đi ngược lại chính sách của Chủ nghiã tư bản  là thiết lập sở hữu tư nhân hay sở hữu “thực”đến mức tối đa có thể được và để cho phân phối tự nó lo liệu lấy. Sự thay đổi trên kéo theo một sự lật ngược về mặt đạo đức.Trong chủ nghĩa xã hội, tư hữu tài sản là điều đáng nguyền rủa và phân phôi bình quân là điều quan tâm đầu tiên. Trong Chủ nghiã tư bản tư hữu tài sản là điều cốt yếu (cardinal) và sự phân phối được để mặc cho các hợp đồng tự do và các quyền lợi ích kỷ tự quyết định lấy trên cơ sở -tư hữu tài sản-đó, cho dù nó có  kỳ quái đến đâu.


Chủ nghĩa xã hội chưa hề xuất hiện trong những giai đoạn đầu tiên của chủ nghĩa tư bản chẳng hạn trong số những người tiên phong của văn minh trong một nước vẫn còn nhiều đât đai cho những kẻ đến sau chiếm đoạt làm của riêng. Sự phân phối dưới những điều kiện ấy không phải là sự đi trệch xa khỏi lẽ công bằng sơ đẳng, mà là sự phân cực hợp lẽ, do chỗ một số người có được những nghị lực phi thường hoặc khả năng đặc biệt ở về một cực, và những người khác với những khiếm khuyết rõ rệt về trí lực hoặc do vận hạn rủi ro, ở cực bên kia. Tuy nhiên giai đoạn này không kéo dài dưới những điều kiện sống hiện đại. Tất cả những chỗ thuận lợi chẳng mấy chốc đã bị chiếm hết làm của riêng , và những người đến sau ( do di dân nhập cư hoặc do phát triển dân số tự nhiên ) không còn thấy đất đai thích hợp để mà chiếm , và buộc phải sống bằng cách  thuê đất của chủ đất, biến bọn chủ này thành giai cấp địa chủ hưởng huê lợi từ nguồn thu không lao động, nguồn thu này tăng lên với đà tăng của dân số , cho đến khi giai cấp địa chủ trở thành giai cấp cho vay nợ lãi hoặc giai cấp tư sản, (tư bản là cái tên người ta gán cho tiền nhàn rỗi). Các nguồn đất cho thuê và tiền nhàn rỗi chỉ có cho những ai được giáo dục đầy đủ để giữ các tài khoản và điều hành các doanh nghiệp, phần lớn số này nảy ra từ  giai cấp những người có của và con cái họ. Những người còn lại phải đem thân làm thuê như những công nhân hoặc thợ thủ công, lĩnh lương ngày hoặc tuần , từ đó sinh ra sự phân chia xã hội một cách thô sơ thành giai cấp thượng lưu hay giai cấp có của(hữu sản), giai cấp trung lưu hay hàng ngũ điều hành và quản trị, và giai cấp vô sản làm thuê. Trong sự phân chia này, giai cấp hữu sản chỉ thuần túy là bọn người ăn bám, có hưởng thụ mà không có làm ra. Do sự hoạt động tàn nhẫn của các qui luật kinh tế , các giai cấp này đã giầu lại ngày càng giầu thêm theo sự phát triển của dân số, những nhu cầu về sự hầu hạ trong nhà và sự  xa xỉ của nó tạo ra cho giai cấp trung lưu và giai cấp vô sản cả những ngành nghề ăn bám, không chỉ rút ra từ sản xuất công nghiệp một lượng lớn nhân công  mà còn củng cố nó về mặt chính trị bằng các tổ chức mạnh mẽ của công nhân và viên chức, những kẻ sẽ bầu cho chủ của mình vì họ lệ thuộc vào chính nguồn thu nhập không lao động của chủ cũng như lệ thuộc vào giới chủ.

Trong khi đó sự chạy đua ăn chơi tiêu dùng của giới chủ dẫn đến tình trạng sản xuất ra mười sản phẩm chỉ để thỏa mãn nhu cầu của một, dẫn đến nạn khủng hoảng thảm khốc của sản xuất thừa, luân phiên với tình trạng ế ẩm, làm cho ngay cả việc bóc lột giai cấp vô sản cũng không thể được nữa.
   Khi tiền lương giảm tới mức không thể tiết kiệm đươc nữa, thì trong những thời kỳ suy thoái người thất nghiệp không còn cách nào sống sót  ngoài việc trông chờ vào cứu tế.
  Chính trong thời kỳ này của sự phát triển của chủ nghĩa tư bản mà nước Anh đạt đến vào thế kỷ 19, chủ nghĩa xã hội đã trỗi dậy như một sự nổi loạn chống lại tình trạng phân phối của cải đã không còn hợp đạo lý nữa.
Khối tài sản khổng lồ lại thuộc về tầng lớp  không sản xuất và đôi khi nhân cách rõ ràng không xứng đáng , còn những kẻ làm quần quật như khổ sai từ thời trẻ thơ cho đến hết đời, thì vẫn cứ phải vắt kiệt sức lực để sống trong cảnh khốn cùng, chốn trú thân cho tuổi già chỉ là nhà tế bần công cộng , được cố ý làm ra một cách đáng ghê tởm để  ngăn cản người vô sản khỏi dùng đến nó chừng nào họ còn đủ sức lực cho những công việc được trả đồng lương thảm hại trong thị trường lao động. Sự bất công đã trở nên khủng khiếp: người lao động cực nhọc được trả 4 hay 5 shilling một ngày ( mức lương sau chiến tranh) trong khi thấy ngay trước mắt những kẻ kiếm vài ngàn một ngày mà chẳng phải làm gì hết, thậm chí còn coi khinh lao động. Sự chênh lệch đó  trong thu nhập không có cách nào giải thích được bằng những khác biệt trong đóng góp của con người. Chính phủ buộc phải can thiệp và điều chỉnh thu nhập đến một mức nào đó, bằng cách thu lại một tỷ lệ nhất đinh, ngày càng tăng, trong thu nhập của giới hữu sản (thuế thu nhập, thuế siêu lợi tức, thuế bất động sản) để thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, và mở rộng dịch vụ công cộng , bên cạnh việc bảo vệ giai cấp vô sản khỏi sự áp bức thậm tệ bằng cách soạn thảo các bộ luật doanh nghiệp để kiểm soát các nhà máy công sở khỏi bàn tay cuả giới chủ,  làm cho giới chủ không thể chỉ hoàn toàn  ích kỷ bắt tăng giờ làm quá mức không đếm xỉa gì đến sức khỏe, an toàn thân thể và phúc lợi tinh thần của người làm thuê.

 Việc thu lại lợi tức cá nhân vì mục đích công cộng mà không được đòi hỏi bất kỳ sự  bồi thường nào, bây giờ đang tiến hành ở một qui mô mà các bộ trưởng thời nữ hoàng Victoria khó tưởng tượng nổi , đã phá vỡ tính nguyên vẹn của chế độ sở hữu tư nhân và quyền thừa kế; và nguồn tư bản thu được đã được chính phủ trung ương và các thành phố tự trị đưa vào các ngành công nghiệp công cộng , trái ngược với nhiều thất bại và tốn kém của các dự án tư bản chủ nghĩa , đã làm rung chuyển điều mê tín rằng quản lý thương nghiệp tư nhân luôn hiệu quả hơn và ít tham nhũng hơn quản lý công cộng. Đặc biệt, mưu đồ của Anh dựa vào tư nhân để trang bị vũ khí cho quân đội trong chiến tranh 1914-1918 đã gần như dẫn đến thất bại, còn sự thay thế nó bằng các nhà máy công hữu lại thành công khá ấn tuợng, và tiêu thụ của khu vực tư nhân sau chiến tranh, sau một hồi thịnh vượng bùng phát ngắn ngủi và mơ hồ, đã rơi vào thảm cảnh suy thoái, đến nỗi niềm tin vào tính hiệu quả tương đối của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản đã bị lật ngược nhanh chóng, chủ nghĩa tư bản lâm vào thế thủ và không còn công chúng ủng hộ, trong khi sự tịch thu tài sản tư hữu , doanh nghiệp công cộng và quốc hữu hoá các ngành công nghiệp lớn ngày càng được hậu thuẫn vững chắc trong dân chúng, và cả từ trong  đến ngoài nghị viện.
Sự thay đổi này của công luận đã thâm nhập sâu sắc vào tầng lớp trung lưu, vì địa vị của người quản lý bình thường có chiều đi xuống. Trong thế kỷ 19 anh ta được coi như người chủ trong công nghiệp , và sau Cải cách năm 1832, còn làm chủ cả tình hình chính trị. Anh ta giao dịch trực tiếp và thậm chí có phần  lấn át giai cấp hữu sản, kẻ cho anh ta thuê đất hay vay vốn trực tiếp hoặc qua đại lý,  những đại lý này là đày tớ chứ không phải là chủ của anh ta. Nhưng rồi yêu cầu về vốn ban đầu để khởi nghiệp và phát triển những dự án công nghiệp hiện đại đã  tăng nhanh đến mức vượt tầm với của một người quản lý bình thường. Việc tích luỹ tiền vốn đã trở thành một ngành kinh doanh đặc biệt, do những nhà tài trợ và những nhà tài chính chuyên nghiệp tiến hành. Những chuyên gia này, dầu không có liên hệ trực tiếp với công nghiệp, đã trở thành không thể thiếu được, đến nỗi ngày nay họ đã thực sự là chủ của những nhà quản lý bình thường. Trong khi đó thì sự lớn nhanh của các công ty liên doanh đã thay thế người quản lý bằng nhân viên-điều hành , và như vậy đã biến tầng lớp trung lưu độc lập trước đây thành vô sản, và về phương diện chính trị,  đẩy họ sang phe tả .
 Khoản tiền vốn cần thiết để đầu tư ban đầu và mở rộng công nghiệp tăng đến đâu thì đòi hởi năng lực quản lý tăng lên đến đó, điều này thì nhà tài chính chịu không đáp ứng được, trên thực tế họ đã làm chảy máu chất xám của tầng lớp trung lưu trong công nghiệp và hấp thụ nó vào chuyên môn riêng của họ. Vấn đề là đã tới lúc trong việc điều hành công nghiệp phải thay thế những doanh nhân cổ hủ bằng hàng ngũ văn phòng có trình độ và được đào tạo chuyên nghiệp, và vì chủ nghĩa tư bản không cung cấp đội ngũ văn phòng như thế, các công ty thường gặp khó khăn khi lớn lên bằng cách hợp nhất, và như vậy gạt bỏ mất năng lực của các nhà quản lý vốn quen điều hành các doanh nghiệp đơn lẻ. Khó khăn này càng tăng lên vì yếu tố cha truyền con nối trong doanh nghiệp.
Một ông chủ có thể trao quyền thừa kế  kiểm soát một doanh nghiệp liên quan đến sinh kế của vài ngàn công nhân, nó đòi hỏi người lãnh đạo phải có năng lực và nghị lực bẩm sinh lớn, hoặc trình độ chính trị và khoa học thích đáng, cho người con trưởng của ông ta mà không cần thử thách nào để chứng tỏ năng lực của anh này, trong khi nếu ông ta làm đơn xin cho cậu con thứ làm bác sĩ hoặc sĩ quan hải quân, chắc chắn chính phủ sẽ thông báo một cách cương quyết  rằng chỉ sau khi đã qua những khoá đào tạo dài hạn và kỹ lưỡng  và đạt được những văn bằng chính thức thì cậu con của ông ta mới được trao những trách nhiệm như thế. Trong trường hợp đó phần lớn các doanh nghiệp buộc phải lựa chọn  giữa các nhà quản lý tầm tầm không thực sự hiểu rõ công việc của mình , với những nhà tài chính, chưa bao giờ bước chân vào nhà máy hay hầm mỏ, không biết một nghiệp vụ nào ngoài nghiệp vụ huy động tiền để  sử dụng như đồng vốn,  đẩy nó vào cuộc phiêu lưu của doanh nghiệp với mọi bất trắc, kết quả thường là liều lĩnh và ngu dại đầu tư quá mức dẫn đến phá sản ( trá hình là cải tổ ) điều đó cho thấy cái dốt kỹ thuật và mù  kinh tế  đáng kinh ngạc của nhiều người có tiếng là giám đốc những tổ hợp công nghiệp lớn, kẻ dám rút những khoản tiền khổng lồ để thù lao cho những khả năng huyền thoại chỉ tồn taị trong trí tưởng tượng của các cổ đông .

   II
Tất cả những cái đó chắn chắn huỷ hoại bộ mặt đạo đức của chủ nghĩa tư bản. Việc mất lòng tin của dân chúng  vào chủ nghĩa tư bản đã đi xa hơn việc chủ nghĩa xã hội giành được lòng tin. Hậu quả là cuối phần tư đầu tiên của thế kỷ 20 tình hình chính trị ở châu Âu rối loạn và đầy đe doạ ; tất cả các đảng phái chính trị đều chẩn đoán bệnh trạng xã hội là nguy kịch, phần lớn các đảng ấy đề nghị những phương án điều trị khốc liệt. Các chính phủ quốc gia, dù cổ xuý cho khẩu hiệu  đảng phái nào, đêàu thấy mình bị kiểm soát bởi những nhà tài phiệt   theo đuổi những khoản vay nợ lãi quốc tế kếch xù   mà không nhằm mục đích công cộng nào cả, không có trình độ chuyên môn nào ngoài việc  quen dùng những lề thói thô thiển  hoàn toàn không thích hợp với công việc quốc gia, bởi vì nó chỉ dính với sở chứng khoán và các dạng giao dịch ngân hàng của tư bản và tín dụng . Những cái này, mặc dù có hiệu lực ở thị trường tiền tệ khi tiến hành trao đổi lợi tức tương lai cho tiền nhàn rỗi của thiểu  số nhỏ những kẻ có thưà tiền để nhảy vào cuộc chơi, sẽ biến mất dưới sức ép của bất kỳ thủ đoạn chính trị thông thường nào-lấy một ví dụ dễ hiểu - như  đánh thuế trên tiền vốn. Việc đánh thuế như vậy sẽ tạo ra một thị trường tiền tệ trong đó chỉ có người bán mà chẳng có kẻ mua, nâng lãi suất ngân hàng lên đến vô hạn, phá vỡ ngân hàng và làm ngưng trệ sản xuất  bằng cách đưa vào ngân khố quốc gia toàn bộ lượng tiền mặt lẽ ra để trả lương. Đáng buồn là các phe phái vô sản trong nghị viện cũng chẳng hiểu điều này khá hơn gì các đối thủ tư sản của họ. Họ la hét về thuế đánh trên  tiền vốn; còn các đại biểu tư sản thay vì thẳng thắn thừa nhận rằng tư bản (tiền vốn) như họ hình dung chỉ là một bóng ma, và rằng cái giả thiết một người có thu nhập mỗi năm 5 bảng anh tuyên bố với nhà nứơc rằng anh ta có sẵn tài sản 100 bảng bằng tiền mặt, mặc dù trong sở giao dịch chứng khóan thì một nhà đầu tư hay một kẻ ăn tiêu hoang tòang cũng như nhau cả, cái giả thiết ấy nếu đem áp dụng cho phạm vi quốc gia thì chỉ thuần túy là hư cấu mà thôi; bảo vệ một cách ngu ngốc nguồn tài chính tửơng tựơng như thể nó tồn tại thật, như vậy là  đánh lừ a giai câp vô sản thay vì giáo dục nó.  
Các nhà tài chính có những ảo tửơng hão huyền của họ, đó là họ có thể làm cho nguồn tư bản của đất nứơc tăng gấp đôi, nhờ đó kích thính mạnh mẽ sự phát triển của công nghiệp và sản xuất, bằng cách lạm phát tiền tệ đến khi giá cả tăng gấp đôi, một mặt hàng trứơc đây giá 50 bảng thì bây giờ lên 100 bảng, một biện pháp chẳng có lợi gì cho đất nứơc nhưng nó giúp cho tất ca ûcác con nợ lừa các chủ nợ, và tất cả các hãng bảo hiểm, các quỹ hưu trí giảm đi một nửa số tiền mà lẽ ra nó phải thanh tóan. Lịch sử lạm phátcủa châu Âu từ chiến tranh 1914-18 với cái kết quả bần cùng hoá những người hưu trí và các sĩ quan ăn lương cố định, buộc giai cấp trung lưu nhận ra các hậu quả đ áng sợ của một nền tài chính buông thả và một nền công nghiệp hướng tới những “nhà kinh doanh thực tiễn”, thô vụng, không yêu nước và ngu dốt về chính trị .
  Trong khi đó sự hấp dẫn của tư bản dẫn tới việc tranh giành chiếm hữu và khai thác các lãnh thổ bên ngoài( các “vị trí dưới mặt trời) tạo ra những cuộc chiến tranh ở qui mô không chỉ đe doạ nền văn minh mà cả sự tồn tại của con người, vì trước đây những trận địa chiến giữa hai đội quân thì phụ nữ  còn được yên, còn bây giờ, những cuộc tấn công từ trên không vào các mục tiêu dưới đất thì cả đàn ông và phụ nữ đều bị bắn giết bừa bãi, đến mức không lôi được xác chết ra ngoài. Phản ứng cảm xúc sau những cụộc chiến tranh như thế mang tích chất vỡ mộng sâu sắc, làm cho những cuộc nổi loạn về tinh thần chống tư bản ngày càng tăng nhanh , mà , rủi thay không có một quan niệm mới nào khả dĩ thay thế.  Giai cấp vô sản làm mình làm mẩy một cách yếm thế , không còn tin vào sự trong trắng vô tư của những kẻ kêu gọi họ phải thắt lưng buộc bụng , cố gắng hy sinh nhiều nữa để hàn gắn vết thương chiến tranh. Tính chính thống về mặt đạo đức của tư hưũ tài sản bị bẻ gãy, và chính sự sung công thu-nhập không-lao-động, sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản thành thị và quốc gia, những khoản trợ cấp lương mới mà các chính phủ buộc phải nhả ra do bị uy hiếp bởi thảm hoạ bãi công đình công trong phạm vi toàn quốc, đã xui khiến giai cấp vô sản tiếp tục vận hành hệ thống tư bản chủ nghĩa, việc cưỡng bức lao động trước đây vốn là nền tảng của CNTB, (làm việc, hay chết đói!) thì nay đã bị vứt bỏ không thương tiếc. Công nhân từ chối làm việc bây giờ có thể sống được nhờ cứu  tế , (tức là suy cho cùng, nhờ tước đoạt thu-nhập không-lao-động) là điều trước đây không thể nào có được.
   Dân chủ , hay quyền phổ thông đầu phiếu, không tạo ra được giải pháp có tính xây dựng cho các vấn đề xã hội, giáo dục cưỡng bức cũng không giúp ích gì nhiều. Những hy vọng vô bờ bến dựa trên việc mở rộng liên tục quyền bầu cử, lên đến cực điểm trong phong trào giải phóng phụ nữ. Những hy vọng ấy đã thành thất vọng,vì cử tri, nam hay nữ, vốn không được giáo dục và đào tạo về chính trị , đã (a) không nắm được các biện pháp xây dựng ,(b) ghét hệ thống thuế như hiện hành (c) không muốn bị kiểm soát gì cả và (d) kinh sợ và phẫn nộ  với bất kỳ  sự can thiệp nào của chính quyền, coi như xâm phạm vào tự do cá nhân của họ. Giáo dục cưỡng bức, chẳng những không soi sáng cho họ, lại còn khắc sâu tính thiêng liêng bất khả xâm phạm của tư hữu tài sản, và bêu diếu phân phối bởi nhà nước như tội ác và thảm hoạ và bằng cách đó liên tục làm mới các thành kiến xã hội cũ chống lại chủ nghĩa xã hội, làm cho giáo dục quốc dân không thể in sâu một cách giáo điều như nguyên lý đầu tiên tính bất công của tư hữu tài sản, tầm quan trọng tột bậc của bình quân thu nhập vàtính chất tội ác của sự lười biếng.

 Hậu quả là, mặc dầu thất vọng về chủ nghĩa tư bản,và mối đe doạ ngày càng lớn về thương mại suy sụp và tiền tệ suy yếu, các phái đối lập trong nghị trường dân chủ của chúng ta, đối mặt với sự thể là trong tay họ chỉ có độc một phép chữa trị duy nhất là tăng thuế , cưỡng bức cải tổ hoặc quốc hữu hoá ngay các doanh nghiệp bị phá sản, lao động công ich  cuỡng bức đối với mọi tầng lớp nhân dân  trong dân sự cũng như quân đội, đã không dám đương đầu với các cử tri của mình với những đề xuất như thế, vì biết rằng chỉ nội một việc tăng thuế cũng đủ làm mất ghế.  Để trốn tránh trách nhiệm, họ trông mong vào việc ép các thiết chế quốc hội bằng đảo chính và độc tài, như ở Italia, Nga và Tây ban nha. Nỗi thất vọng này của các thiết chế quốc hội là điều mới lạ ở thế kỷ 20, nhưng nó đã thất bại trong việc cảnh tỉnh các cử tri của nền dân chủ rằng sau cuộc đâu tranh lâu dài để giành được quyền kiểm soát chính quyền , họ đã không có cả kiến thức lẫn ý chí để thực thi việc kiểm soát đó, rằng trên thực tế họ chỉ sử dụng quyền bầu cử để kiểm soát các chính phủ địa phương, trong khi nền văn minh đang phá tung các đê chắn của quốc gia ở tất cả mọi hướng.
 Một kiểu kháng cự có kết quả hơn đối với tư hữu là tổ chức của giai cấp vô sản thành các công đoàn, để chống lại hậu quả của việc tăng dân số trong việc hạ giá sức lao động và tăng thời gian cũng như cường độ nặng nhọc của nó. Nhưng  chủ nghĩa công đoàn bản thân nó lại là một phương diện của chủ nghĩa tư bản, bởi vì nó áp dụng cho lao động chẳng khác nào cho hàng hoá cái nguyên tắc trong thị trường là bán sao cho được giá nhất, và với một giá cả nào đó thì cung cấp càng ít càng tốt,  cái nguyên tắc trước đây chỉ áp dụng cho đất đai tiền vốn và thương phẩm. Phương pháp của  nó là phương pháp nộâi chiến giữa lao động và tư bản, trong đó các trận chiến đấu quyết định nhất là những cuộc đình công và bãi công với các đoạn nghỉ xen kẽ bằng những điều chỉnh nhỏ của thuật ngoại giao công nghiệp.Chủ nghĩa công đoàn nay vẫn duy trì một đảng Lao động (Công đảng) trong Nghị viện Anh. Phần đông các đảng viên quần chúng và lãnh đạo là xã hội chủ nghĩa về mặt lý thuyết, do đó luôn luôn có chương trình bằng giấy về quốc hữu hoá các ngành công nghiệp, ngân hàng, đánh thuế vào thu nhập không lao động cho đến sạch, và bao nhiêu rủiro bất ngờ nữa trong quá độ chuyển sang CNXH, nhưng công đoàn đã không vận dụng sức mạnh nhằm bất cứ mục tiêu nào khác hơn là CNTB với việc giành phần hơn (phần sư tử) cho lao động, và từ chối một cách kiến quyết lao động công ích bắt buộc, vì như thế  tước đi mất quyền bãi công của nó .Trong chuyện này nó được sự ủng hộ hết lòng của các đảng tư sản, các đảng này mặc dầu rất muốn đặt bãi công ra ngoài vòng pháp luật và áp đặt lao động công ích cưỡng bức cho giai cấp vô sản, nhưng không muốn trả giá bằng việc từ bỏ quyền ăn không ngồi rồi của chính nó. Lao động công ích cưỡng bức là thiết yếu trong chủ nghĩa xã hội , nhưng như vậy là vấn đề này đã bị bãi bỏ bởi các tổ chức lao động cũng như bởi tư bản.
 Đó là một thực tế lịch sử ,tái diễn nhiều đến mức có thể gọi là một qui luật kinh tế , rằng chủ nghĩa tư bản, đã xây dựng nên cả một nền văn minh, cũng sẽ đập nát nó nếu đến một ngưỡng nào đó . Có thể dễ dàng chứng minh trên giấy rằng có thể cứu vãn đựoc nền văn minh và làm nó phát triển mạnh mẽ , bằng cách, đến một thời điểm thích hợp, ta xoá bỏ chủ nghĩa tư bản đi và biến nhà nước tư hữu tài sản đâøu cơ trục lợi thành nhà nước công hữu phân phối. Nhưng mặc dầu cái thời điểm đó đã đến hết lần này sang lần khác , mà cái điều kia vẫn chưa thành hiện thực, bởi vì chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ khai sáng đủ cho quần chúng , cũng không chấp nhận cho mệnh lệnh của trí tuệ và ý chí cái quyền ưu tiên tham dự trong cộng đồng  xã hội, mà ngoài nó ra thì chủ nghiã xã hội, hoặc  chính trị, rất ít hiểu biết. Chỉ cho đến khi hai nguyên lý chính của chủ nghĩa xã hội :xoá bỏ tư hữu tài sản ( đừng nhầm lẫn với của cải cá nhân ) và bình quân thu nhập đã đi vào quần chúng như những tín điều tôn giáo , và không một ý kiến trái ngược nào với nó được coi là lành mạnh, thì nhà nước xã hội chủ nghĩa mới có thể tồn tại ổn định. Tuy nhiên cần thấy rằng trong hai nguyên lý đó, thì yêu cầu về bình quân thu nhập không phải khó chứng minh, bởi vì không có và chưa hề có phương pháp phân phối nào khác có thể thực hiện được . Bỏ qua một vài trường hợp dễ thấy trong đó kẻ thật sự kiếm được tiền làm nên cơ nghiệp lớn nhờ có phẩm chất tài năng cá nhân phi thường hay may mắn đặc biệt, sự khác biệt hiện có về thu nhập giữa công nhân không phải có tính chất cá nhân mà có tính tập đoàn . Trong một tập đoàn không thể có khác biệt giữa các cá nhân; tất cả công nhân phổ thông, cũng như tất cả các viên chức tầng lớp trên thu nhập là như nhau. Lý do cho sự bình quân thu nhập theo giai cấp là: sự phân phối bất bình đẳng của sức mua làm đảo lộn trật tự đúng đắn của nền kinh tế, một bên là cực kỳ xa hoa một bên là điều kiện sống cùng cực (những nhu cầu nguyên thuỷ của con người không được thoả mãn), nó ảnh hưởng đến hôn nhân, bằng cách hạn chế và làm suy đồi lựa chọn giới tính, làm cho giống nòi thoái hoá, rằng nó hạ thấp tôn giáo, hành chánh, giáo dục, lập pháp xuống thành ngớ ngẩn như giữa người giàu và người nghèo, ràng nó tạo ra tệ sùng bái bọn giàu có và lười biếng nó làm làm suy thoái đạo đức xã hội.
Chẳng may, những định kiến đó lại chính là những điều quan tâm thiết yếu của công chúng. Cá nhân riêng lẻ, luôn luôn bị mọi cản trở chống lại y khi y muốn nhoi lên trong xã hội, thậm chí ngay trong cảnh khốn cùng nhất y vẫn mơ đến một phép màu hay một di chúc để lại một tài sản, nhờ đó y có thể trở thành một nhà tư bản, và y sợ rằng chút tiền của y có được đó có thể bị chính sách khủng khiếp và  khó hiểu  của nhà nước  vồ/nuốt chửng mất. Như vậy lá phiếu bầu của cá nhân riêng lẻ là lá phiếu của Annias và Sapphirra, và nền dân chủ trở thành rào cản có hiệu lực đối với CNXH hơn chủ nghiã bảo thủ mềm mỏng và ngu ngơ của bọn tài phiệt. Dưới những điều kiện như thế , tương lai là điều không thể nói trước . Các đế chế kết thúc trong suy tàn, các khối của cải vật chất cho đến nay đã vượt quá khả năng dân sự của loài người . Nhưng luôn luôn tồn tại khả năng loài người lần này sẽ vượt qua được mũi đất trên đó tất cả các nền văn minh cũ đã bị  tiêu vong. Chính là cái khả năng này đã tạo nên những mối quan tâm mãnh liệt cho thời điểm lịch sử hiện tại, giữ cho chủ nghĩa xã hội vẫn còn sức sống và sức chiến đấu.


G.B.S.  1926
Hiếu Tân dịch, 2002

Thứ Bảy, 26 tháng 5, 2012

THUYẾT TƯƠNG ĐỐI: CÁC HỆ QUẢ TRIẾT HỌC Bertrand Russell



THUYẾT TƯƠNG ĐỐI: CÁC HỆ QUẢ TRIẾT HỌC
Bertrand Russell




 
Nhà toán học, triết học và tư tưởng xã hội BERTRAND RUSSELL làm công việc giải trình kinh điển về thuyết tương đối cuả EINSTEIN , “A,B,C về thuyết tương đối” khi ông nhận viết cho lần xuất bản thứ mười ba (1926) của Britannica. Nó là  một bài luận văn bách khoa hơi khác thường- có tính thăm dò và suy luận- nhưng nó cung cấp một đối trọng thú vị cho bài báo mang nặng tính kỹ thuật hơn, của chính EINSTEIN.



Về các hệ quả triết học có thể cho là từ thuyết tương đối, một số thì đã rõ ràng , số khác thì còn là những câu hỏi bỏ ngỏ. Có một khuynh hướng, khá  phổ biến khi có một lý thuyết khoa học mới ra đời, là mọi nhà triết học đều muốn lý giải công trình của Einstein theo hệ thống siêu hình của chính họ, và cho rằng các kết luận của nó là một sự hậu thuẫn mạnh mẽ cho những quan điểm mà họ giữ bấy nay. Điều này không thể đúng trong mọi trường hợp; và có thể hy vọng rằng nó chẳng đúng trong trường hợp nào cả. Sẽ là một thất vọng to lớn nếu một thay đổi cơ bản như Einstein đã đưa ra lại không kéo theo một sự đổi mới nào về triết học.

Không- thời gian --Đối với triết học, sự đổi mới quan trọng nhất đã được trình bày trong thuyết tương đối hẹp, đó là, sự thay thế của không-thời gian cho không gian và thời gian. Trong động lực học Newton, hai sự kiện được phân cách bằng hai loại khoảng , một cái là khoảng cách trong không gian, cái kia  là khoảng thời gian. Ngay khi người ta nhận  thức được rằng chuyển động là tương đối (nhận thức này đã có rất lâu trước Einstein), khoảng cách trong không gian trở thành mơ hồ trừ trường hợp hai sự kiện là đồng thời, nhưng người ta vẫn có thể nghĩ rằng không có sự mơ hồ về sự đồng thời ở các vị trí khác nhau. Bằng các lý lẽ thực nghiệm và các lý lẽ logic có thể  tìm thấy bất cứ lúc nào sau khi người ta biết rằng tốc độ của ánh sáng là hữu hạn, thuyết tương đối hẹp chỉ ra rằng tính đồng thời chỉ là xác định khi áp dụng cho các sự kiện ở cùng vị trí, và tính đồng thời này sẽ trở nên mơ hồ khi các sự kiện càng rời xa nhau trong không gian .

 Điều khẳng định này không hoàn toàn đúng, vì nó vẫn còn sử dụng khái niệm “không gian” Điều khẳng định đúng là như thế này: Các sự kiện có một trật tự bốn-chiều, nhờ đó chúng ta có thể nói rằng một sự kiện A gần với một sự kiện B hơn là với một sự kiện C, đây là một vấn đề thuần tuý trật tự, không liên quan gì đến lượng. Nhưng bên cạnh đó, giữa các sự kiện lân cận còn có quan hệ về lượng gọi là “khoảng”, nó thực hiện cả hai chức năng là khoảng cách trong không gian và khoảng thời gian trôi qua trong động lực học truyền thống, nhưng thực hiện một cách khác. Nếu một vật thể có thể chuyển động sao cho nó có mặt ở cả hai sự kiện , thì khoảng đó có tính thời gian. Nếu một tia sáng có thể chuyển động sao cho nó có mặt ở cả hai sự kiện , khoảng đó bằng không (zêrô). Nếu không cái nào xảy ra, khoảng đó có tính không gian. Khi chúng ta nói về một vật thể đang có mặt “tại” một sự kiện, chúng ta muốn nói rằng sự kiện xảy ra ở cùng một vị trí trong không-thời gian với một trong những sự kiện làm nên lịch sử của vật thể đó, và khi chúng ta nói rằng hai sự kiện xảy ra tại cùng một vị trí trong không-thời gian, chúng ta muốn nói rằng không có sự kiện nào giữa chúng trong trật tự không-thời gian bốn chiều. Tất cả mọi sự kiện xảy ra cho một người ở một thời điểm nhất định(trong thời gian của anh ta) theo nghĩa này, là ở một vị trí, chẳng hạn khi chúng ta nghe một âm thanh và đồng thời thấy một màu sắc, cả hai cảm giác đó của chúng ta đều ở một vị trí trong không thời gian

  Khi một vật thể có thể hiện diện ở hai sự kiện không cùng một vị trí trong không-thời gian, trật-tự –thời-gian của hai sự kiện không phải là mơ hồ, mặc dầu độ lớn của khỏang thời gian sẽ là khác nhau trong các hệ thống đo lường khác nhau. Nhưng khi nào khỏang cách giữa hai sự kiện có tính không gian, thì trật-tự –thời-gian của chúng sẽ là khác nhau trong các hệ thống đo lừơng chính thống như nhau,  do đó trong trừơng hợp này, trật tự thời gian không biểu hiện một sự kiện vật lý. Khi hai vật thể chuyển động tương đối , như mặt trời và một hành tinh nào đó, không có sự kiện vật lý như “khoảng cách giữa hai vật tại thời điểm đã cho”, chỉ riêng điều đó cho thấy định luật vạn vật hấp dẫn của Newton sai về mặt lôgich. May thay, Einstein đã không chỉ vạch ra sai lầm, mà còn sửa chữa nó. Tuy nhiên, lập luận của ông chống lại Newton vẫn có giá trị ngay cả khi  định luật hấp dẫn của chính ông chưa được chứng minh là đúng.

Thời gian không phải là một trật tự vũ trụ duy nhất: Cái sự kiện thời gian là riêng cho mỗi vật thể, không phải là một trật tự vũ trụ, kéo theo những thay đổi trong quan niệm về thực thể và nguyên nhân, và đề xuất (dùng quan niệm) một loạt sự kiện thay cho một thực thể đang thay đổi trạng thái. Cuộc tranh cãi về ête như vậy trở nên không thực tế. Rõ ràng là, khi các sóng ánh sáng di chuyển, các sự kiện diễn ra, người ta thường nghĩ rằng nó phải diễn ra “trong” một cái gì đócái gì đó ấy, người ta gọi là ête. Nhưng dường như ngoại trừ một thành kiến lôgich, không có lý do nào để giả định là các sự kiện ở “trong” một cái gì. Vấn đề được rút lại thành một qui luật, theo đó, các sự kiện nối tiếp nhau tản ra từ những trung tâm, nhưng ở đây chúng ta bàn về các suy đoán còn tư biện hơn nữa.

Các định luật vật lý .__ GS Eddingtond đã nhấn mạnh một khía cạnh cuả thuyết tương đối có tầm quan trọng về mặt triết học, nhưng khó làm sáng tỏ nếu không sử dụng môt số phép toán khó hiểu. Khía cạnh đó là sự giản lược những gì thường được coi như những qui luật vật lý thành  các trạng thái rõ ràng hiển nhiên hoặc các định nghĩa rõ nét. GS Eddingtond, trong một tiểu luận hay một cách thâm thuý về “ Lĩnh vực của khoa học vật lý” [1], trình bày vấn đề đó như sau :

  Trong giai đoạn hiện nay của khoa học, các định luật vật lý có thể chia ra ba loại : đồng nhất, qui luật thống kê và tiên nghiệm. Các định luật “đồng nhất ” gồm những qui luật phổ biến thường được viện dẫn như những ví dụ điển hình về qui luật tự nhiên – định luật vạn vật hấp dẫn, định luật bảo toàn khối lượng và năng lượng, định luật điện từ và bảo toàn điện tích. Những qui luật này được xem là đồng nhất khi chúng ta qui vào chu kỳ để hiểu thể trạng của các thực thể tuân theo các định luật ấy; và trừ khi chúng ta hiểu sai các thể trạng này, việc vi phạm các luật đó là không thể hiểu được. Chúng không hạn chế cấu trúc cơ bản của thế giới bằng bất kỳ cách nào, và không phải là những qui luật điều hành. ( TL đã dẫn, trang 214-215)

   Chính những qui lật đồng nhất này hình thành nên chủ đề của thuyết tương đối , các qui luật khác, qui luật  thống kê và qui luật tiên nghiệm, nằm ngoài phạm vi của nó. Như vậy kết quả  chung cuộc của thuyết tương đối là chỉ ra rằng các định luật truyền thống của vật lý, hiểu một cách đúng đắn, hầu như không nói với chúng ta điều gì về tiến trình của giới tự nhiên, đúng hơn là tự nhiên của sự thật hiển nhiên có tính lôgic.

   Kết quả đáng kinh ngạc này là nhờ kỹ năng tính toán đã phát triển cao. Cũng tác giả nói trên [2]
đã nói ở một chỗ khác :
   Về một nghĩa, lý thuyết diễn dịch là kẻ thù của vật lý thực nghiệm. Vật lý thực nghiệm luôn luôn cố gắng giải quyết vấn đề  bằng các thí nghiệm cốt yếu bản chất của các vật cơ bản, lý thuyết diễn dịch cố gắng giảm thiểu các thành tựu đạt được bằng cách chỉ ra một bản chất sự vật tương thích đến  mức độ nào với tất cả các kết quả thí nghiệm.

   Điều đề xuất là : trong thế giới có thể nhận thức được, một cái gì đó sẽ được bảo toàn, các phép tóan cho ta phương tiện  xây dựng các biểu thức toán học có đặc tính bảo toàn ấy. Là điều tự nhiên khi giả định rằng sẽ có ích khi có những cảm quan nó nhận ra các thực thể được bảo toàn ấy, như vậy, khối lượng, năng lượng, vân vân.. hình như đã có cơ sở trong kinh nghiệm của chúng ta, nhưng thực tế chỉ một lượng nhất định  của chúng được bảo toàn, và thích hợp để được nhận biết. Nếu quan điểm này là đúng, vật lý học cho chúng ta biết về thế giới thật ít hơn nhiều so với những gì trước nay đã nghĩ.

 Lực và hấp dẫn: Một khía cạnh quan trọng của thuyết tương đối là xoá bỏ “lực”. Tất nhiên, điều này không phải là mới trong suy nghĩ, nó đã được chấp nhận trong động lực học hợp lý. Tuy nhiên vẫn còn một vấn đề khó khăn nổi trội của lực hấp dẫn, mà Einstein đã vượt qua. Giả thử , mặt trời ở trên một đỉnh đồi, còn các hành tinh ở bên sườn đồi. Chúng chuyển động như chúng đang làm vì sườn đồi nơi chúng đang ở, không phải vì một ảnh hưởng bí mật xuất phát từ trên đỉnh. Vật thể chuyển động như chúng làm vì đó là chuyển động dễ nhất có thể trong địa hạt không thời gian trong đó chúng đang ở, không phải vì những “lực” tác động lên chúng. Nhu cầu bề ngoài dùng lực để giải thích các chuyển động được quan sát có từ những sai lầm dai dẳng về hình học Ơclít , một khi chúng ta đã vượt qua thành kiến này, chúng ta thấy rằng các chuyển động được quan sát, thay vì chứng tỏ sự có mặt của lực, lại chứng tỏ bản chất của hình học có thể áp dụng cho lĩnh vực liên quan. Các vật thể như vậy trở thành độc lập với nhau hơn nhiều so với trong vật lý Newton: có sự tăng lên của chủ nghiã cá nhân và sự giảm thiểu ảnh hưởng của chính phủ trung ương, nếu ta có thể nói một cách ẩn dụ như vậy. Điều này, đến một lúc nào đó có thể coi như việc sửa chữa hình ảnh của người có giáo dục về vũ trụ, với những kết quả có thể còn đi xa hơn nữa.

Chủ nghĩa hiện thực trong thuyết tương đối – Sẽ là sai lầm nếu cho rằng thuyết tương đối thích hợp với một hình ảnh duy tâm về thế giới—dùng “chủ nghĩa duy tâm” theo nghĩa kỹ thuật, trong đó nó hàm ý rằng không thể có cái gì không phải là kinh nghiệm. “Người quan sát” thường xuyên được đề cập đến trong việc trình bày thuyết tương đối không nhất thiết là một người, mà có thể là tấm kính máy ảnh, hay bất kỳ dụng cụ ghi nào. Giả định cơ bản của thuyết tương đối là hiện thực, tức là, các khía cạnh trong đó tất cả các nhà quan sát đều nhất trí khi họ ghi nhận một hiện tượng có thể xem như một khách thể, mà không phải như sự đóng góp của chính nhà quan sát. Giảù định này được hình thành từ lương tri thông thường. Kích thước và hình dáng biểu kiến của khách thể khác đi tùy theo điểm nhìn, nhưng lương tri thông thường không quan tâm đến những sự khác nhau này. Thuyết tương đối chỉ mở rộng quá trình này ra. Bằng cách xét đến không chỉ con người quan sát -tất cả đều cùng chuyển động theo trái đất- mà cả những “nhà quan sát” có thể trong chuyển động tương đối rất nhanh với trái đất, cho thấy rằng nó phụ thuộc vào điểm nhìn của người quan sát nhiều hơn là trước đây vẫn nghĩ. Nhưng thấy một thặng dư không phụ thuộc đến thế; đây là phần có thể biểu hiện bằng phuơng pháp “ cơ căng”. Tầm quan trọng của phương pháp này khó có thể cường điệu quá mức, tuy nhiên, hoàn toàn không có khả năng giải thích nó bằng những thuật ngữ không –toán.

Vật lý học tương đối – vật lý học tương đối, tất nhiên chỉ liên quan đến các khía cạnh lượng tử của thế giới. Cái bức tranh được gợi ra đại để là như sau: -- Trong khuôn khổ không-thời gian bốn chiều có cá sự kiện ở khắp mọi nơi, thường thường nhiều sự kiện ở một vị trí duy nhất trong không thời gian . Các quan hệ toán học trừu tượng của các sự kiện này diễn biến theo các qui luật vật lý, nhưng bản chất cố hữu của các sự kiện thì hoàn toàn và chắc chắn là chưa được biết đến, trừ khi chúng xảy ra ở nơi có một kiểu cấu trúc mà chúng ta gọi là bộ não. Từ đó chúng trở thành những hình tướng âm thanh v.v.. ..quen thuộc với cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Nhìn một ngôi sao chúng ta biết  nó như thế nào, nhưng chúng ta không biết bản chất của các sự kiện cấu thành các tia sáng đi từ ngôi sao đến mắt ta. Và khuôn khổ không –thời gian tự nó chỉ được biết đến trong các thuộëc tính toán học trừu tượng của nó, không có lý do gì để giả định nó, trong các đặc tính cố hữu, tương tự với các quan hệ không gian và thời gian của trí giác của chúng ta như đã biết trong kinh nghiệm.Có lẽ không có một cách nào khả dĩ vượt qua điều không biết này, vì chính bản chất của suy luận vật lý chỉ cho phép đi đến những kết luận trừu tượng nhất.

   Trong khi đó, thật lạ lùng là loại kiến thức nghèo nàn này lại đủ cho các ứng dụng thực tiễn của vật lý. Từ quan điểm thực tiễn, thế giới vật lý chỉ thành vấn đề khi nó ảnh hưởng đến chúng ta, còn bản chất nội tại của những gì diễn ra vắng mặt chúng ta là không đáng quan tâm, miễn là chúng ta có thể dự đoán các tác dụng lên bản thân chúng ta. Điều này chúng ta làm được,  giống như một người có thể sử dụng điện thoại mà không hiểu gì về điện. Chỉ có kiến thức trừu tượng nhất mới cần cho thao tác thực tiễn của vấn đề.  Nhưng có một mối nguy hiểm nghiêm trọng khi thói quen này dựa trên các qui luật toán học được đưa sang để xử lý đối với con người,vì con người không như dây điện thoại, họ có khả năng hạnh phúc hoặc khốn khổ, ước muốn và căm ghét. Do đó sẽ là bất hạnh nếu những thói quen của trí óc là thích hợp và đúng khi xử lý với các cơ cấu vật chất, lại được phép tràn ngập các thủ đoạn cuả nhà cầm quyền  đối với các kiến trúc xã hội. 


Hiếu Tân dịch (2005)
















Chú thích :

[1] Trong cuốn Khoa học,Tôn giáo và Hiện thực (1925)
[2] A.S Eddington, Lý thuyết toán học và thuyết tương đối trang 328 ( Cambridge, 1924)