Thứ Năm, 2 tháng 6, 2016

Chúng tôi đã làm gì sai?



Chúng tôi đã làm gì sai? Các  nạn nhân của Cách mạng Văn hoá tìm câu trả lời sau 50 năm.

Các gia đình bị tàn phá bởi các cuộc biến loạn chính trị của Mao nói họ không thể tha thứ trong khi Trung Hoa vẫn từ chối đối mặt với quá khứ của nó. 
Shuxiang lắc đầu khi được hỏi liệu ông có thể tha thứ những thiếu niên đã xích cha ông lại và dùng một thanh sắt đánh ông cụ đến chết không.
Đó là mùa đông năm 1966 khi Chen Yanrong trở thành một trong những nạn nhân đầu tiên của Đại Cách mạng Văn hóa Vô sản của Mao Chủ tịch, một cơn đại hồng thủy biến động chính trị xảy ra cách nay đúng 50 năm.
Nhiều giờ sau khi bọn Hồng vệ binh đánh ông cụ trút hơi thở cuối cùng, vợ của Chen – người đã chứng kiến vụ giết Chen – loạng choạng bước về căn nhà của gia đình vừa bị lục soát tan hoang, người đầy máu và quần áo bị xé rách nát, để báo cho sáu đứa con rằng cha chúng không trở về nữa.
“Tôi chỉ hỏi bà: Có chuyện gì xày ra? Chúng ta đã có sai lầm gì? Chúng ta đã làm gì?” Chan Shuxiang nhớ lại.
Nửa thế kì trôi qua, Chen, nay đã 73, đang ngồi ở một trung tâm dưỡng lão ở Bắc Kinh chỉ cách trường trung học nơi cha ông bị giết vài kilomet, đôi mắt ông đẫm nước khi ông cân nhắc những tình cảm của ông đối với những thủ phạm.
“Trong thâm tâm tôi không biết nói với họ thế nào. Tôi không thể tha thứ cho họ,” ông nói về những đứa trẻ cuồng tín đã đánh chết cha ông lúc 37 tuổi. “Cha tôi là một con người, không phải con vật. Ông không phải một con chó hay con mèo. Ông là một con người. Chúng đánh ông đến chết chỉ trong mấy giờ.”

Giáo viên về hưu Chen Shuxiang: “Cha tôi là một con người, không phải con vật.” 
Ảnh: Tom Phillips, gửi cho the Guardian.


Năm mươi năm sau phong trào chính trị tàn hại ấy - bắt đầu ngày 16 tháng Năm 1966 - những người bị cướp mất người thân yêu đang suy nghĩ về những mất mát của mình và về tại sao – cho đến tận hôm nay – vẫn chưa có sự thanh toán sòng phẳng đối với những gì được biết đến như cuộc cách mạng cuối cùng của Mao.
Andrew Walder, tác giả của “Trung Hoa thời Mao: Một cuộc cách mạng trật đường rầy”, nói đảng cộng sản đã tỏ ra “cởi mở lạ thường” về những thiệt hại mà Cách mạng Văn hóa gây ra trong những năm liền sau khi nó kết thúc, 1976, với cái chết của Mao Trạchđông.
Những nạn nhân bị ngược đãi đã được phục hồi và trong một số trường hợp được đền bù. Những thủ phạm vào tù. Những tờ báo của đảng đăng đầy những mô tả nửa hư cấu về những nỗi đau khổ, và Cách mạng Văn hóa đã được chính thức coi là một “sai lầm nghiêm trọng.”
Nhưng việc đảng sẵn lòng nghiên cứu lại những sai lầm quá khứ của nó đã đột ngột dừng lại vào những năm 1980, khi một đợt sóng trong sinh viên bất đồng những lãnh tụ quá cố của đảng.
“Một khi nó xuất hiện, những năm 80 trở đi, thanh niên nói riêng trở nên ngang bướng vì sự thiếu dân chủ và cải cách ở Trung Hoa, họ quyết định rất nhanh rằng họ đã chịu đựng đã quá đủ rồi, và bây giờ họ sẽ tiến lên.” Walder, nhà xã hội học ở Đại học Stanford nói.
[Các lãnh tụ Trung Hoa] đã thấy những gì xảy ra ở Đông Âu, và họ rút ra kết luận rõ ràng và có lợi cho mình rằng, nếu chúng ta muốn nắm giữ quyền lực thì tốt nhất chúng ta đừng xoáy vào quá khứ, mà hãy tập trung vào cải thiện đời sống nhân dân và tiến lên.”
Ba thập niên tiếp theo, cuộc thảo luận về những điều ác phạm phải trong thập niên đó nói chung vẫn là cấm kị.
Từ khi chủ tịch Tập Cậnbình lên nắm quyền năm 2012 đã có sự thúc đẩy cắt bớt sự phê phán triều đại Mao. “Mất ngọn cờ tư tưởng Mao Trạchđông có nghĩa là phủ nhận lịch sử vinh quang của đảng,” Tập nói trong lễ kỉ niệm lần thứ 120 ngày sinh của Mao.
Thiếu cả những câu trả lời lẫn sự công bằng, một số những người đã mất người thân cho Cách mạng Văn hoá thấy mình không thể tha thứ cho bọn Hồng Vệ binh trẻ đã tàn phá gia đình họ dưới danh nghĩa Người Thày Vĩ đại của Trung Hoa.
“Tôi không có lời nào cho bọn chúng. Không một lời nào cả,” Chen, một thày giáo trung học có cha đã từng làm việc ở học viện luyện kim Bắc Kinh nói.
“Tôi có thể nói gì?” ông hỏi. “Rằng các anh còn trẻ? Rằng các anh không biết gì cả? Rằng các anh sai lầm?”
Yao Shuping, có mẹ bị giết bởi Hồng Vệ binh đầu tháng Tám năm 1966 và cha tự vẫn hai năm sau, nói bà có thể tha thứ nếu bọn họ  đến trước để xin lỗi.
“Bọn họ không phải là chủ mưu, họ chỉ là công cụ,” bà Yao, năm nay 77, nói với the Guardian từ nhà riêng ở Boston, nơi bà sống từ những năm 1990.
“Bọn họ là một nhóm học sinh trung học. Ở tuổi ấy họ không biết gì cả. Họ sợ những người khác nói rằng họ không làm cách mạng.”
Trung Hoa trong những năm gần đây đã có những cuộc xin lỗi của Hồng Vệ binh gây nhiều tranh cãi, trong đó có của Song Binbin, kẻ đã bắn để được nổi tiếng trong mùa hè năm 1966, khi cô ta được chụp ảnh đang gắn băng tay màu đỏ vào bộ đồng phục của Mao chủ tịch trong cuộc mit tinh lớn cùa quần chúng ở Quảng trường Thiên An Môn  Bắc Kinh.
“Tôi mong rằng những ai đã làm sai trong Cách mạng Văn hóa và làm tổn thương thày giáo và các bạn học của mình sẽ đối mặt với bản thân và thành khẩn ăn năn để tìm kiếm sự tha thứ và đạt được hoà giải,” Song nói với một tờ báo Trung Hoa năm 2014, gây nên cả một làn sóng lời khen lẫn kết án từ những người cho là cô cố tình làm giảm nhẹ vai trò của mình trong cuộc bạo hành đó.
Roderick MacFarquhar, tảc giả cuốn “Cuộc Cách mạng cuối cùng của Mao” nói những lời xin lỗi như thế đã chậm trễ quá lâu.
“Đó là loại sự việc lẽ ra đã phải được làm trên qui mô toàn quốc, trong các thành phố và làng mạc, thậm chí trên khắp cả nước,” vị học giả của Đại học Harvard nói. Tất nhiên việc đó lẽ ra phải là một dự án lớn và không chính phủ nào muốn làm. Nhưng tôi nghĩ nếu làm được thì rất có lợi.
“Nhân dân muốn được thừa nhận rằng họ đã bị nhằm đánh và đã bị đối xử dã man,” MacFarquhar nói thêm “Tôi không nghĩ họ muốn phô bày những tủi nhục cá nhân trước công chúng nhưng...một sự đền bù nào đó của đảng, một sự thật đơn phương và hồ sơ hoà giải.
“Nhưng nó sẽ không xảy ra vì đơn giản nó làm sống lại những kí ức về những năm cuối cùng của Mao khủng khiếp như thế nào, và đó là điều Tập Cậnbình không muốn.”
Chỉ có cuộc điều tra qua loa nhất có vẻ được thực hiện đối với cái chết tức tưởi của Chen Yanrong.
Năm 1971, khi cuộc Cách mạng Văn hóa đi vào giai đoạn cuối cùng của nó và sự bình thường bắt đầu trở lại, vụ sát hại ông được qui là “chết do tai nạn,” một kết luận mà người thân của ông bác bỏ.
Năm sau gia đình ông nhận được 2.500 tệ (tương đương 3.700 USD ngày nay), từ trường trung học trực thuộc Đại học Bắc Kinh, nơi ông bị bọn Hồng Vệ binh tấn công.
Tháng Hai năm 1979 các quan chức đảng cũng đưa cho gia đình một bản “tuyên án chính trị” ngắn gọn, về vụ giết người. Nó không nhắc gì đến những kẻ chịu trách nhiệm trực tiếp về vụ giết



Hồng Vệ binh và sinh viên, vẫy “Mao tuyển” diễu hành ở Bắc Kinh vào đầu cuộc Cách mạng văn hóa. Ảnh: Jean Vincent/AFP/Getty Images

“Chen Yanrong bị hành hạ đến chết bởi nguyên soái Lâm Bưu và Lũ bốn tên phản cách mạng,” bản luận tội một-trang nhàu nát mà Chen giữ bên trong khung ảnh vỡ cùng với một tập tài liệu tìm được về vụ của cha ông.
Thiếu một cuộc điều tra sâu hơn của chính quyền về việc tại sao cha của ông bị xích vào một két nước và bị giết, Chen đã soạn một hồ sơ của chính ông để các thế hệ tương lai có thể hiểu những đau khổ mà Mao gây ra.
“Tôi mất mười năm để viết,” ông nói. “Việc đó thật khó đối với tôi. Mỗi làn tôi cố nhớ về cha tôi, tôi không thể nén khóc.”
Cuốn sách nhỏ màu lam 134 trang chứa đựng những chi tiết về cảnh lúc 4 giờ chiều ngày 27 tháng Tám năm 1966, bọn Hồng Vệ binh đã xuất hiện ở ngôi nhà của gia đình và bắt cóc cha mẹ ông đưa đi như thế nào.
Tối hôm đó họ bị ném lên xe tải và bị đưa đến hai trường trung học địa phương, trung học của Đại học Thanh Hoa và sau đó trường trung học thuộc Đại học Bắc Kinh.
Chen Yanrong được coi là đã chết ở địa điểm thứ hai này, vào khoảng giữa 2 và 3 giờ sáng, bị đánh đập dã man bằng thắt lưng, dây thừng và một cây sắt.
Sáng hôm sau, Chen kể, mẹ của ông bị đánh tơi tả, về nhà để báo tin.
“Người bà đầm máu, khắp cả mặt mùi chân tay,” ông nhớ lại. “Trông bà không ra người nữa.”
Mặt đầy nước mắt, bà kể cho các con những giờ cuối cùng của Chen Yanrong. “Bà bảo tôi: cha con bị đánh đến khi nằm sõng soài trên nền nhà.”
“Hồng Vệ binh được cho là phá hủy “Bốn cái Cũ[1]” và “Năm hạng người ô nhục[2]” nhưng chúng tôi không thuộc vào những hạng người ấy. Vậy tại sao gia đình chúng tôi lại chịu tổn thất này?
Đã khổ lại thêm nhục, những kẻ hành hình Chen sau đó còn đòi người thân của ông nộp 28 tệ để hoả táng thi hài đã nát bét của ông. Gia đình không đòi lại được xác.
Năm mươi năm sau vụ giết người, Chen đã khóc khi ông nói ông không có lấy một tấm ảnh để nhớ cha của mình. “Những năm 1950 và 1960 chụp một bức hình là chuyện xa xỉ,” ông nói.
Wang Youqin, một học giả của Đại học Chicago, người đã dùng gần 30 năm để điều tra những vụ giết người của Hồng Vệ binh, nói các nạn nhân của Cách mạng Văn hoá đang đấu tranh để rũ bỏ gánh nặng cảm xúc, dù nửa thế kỉ đã trôi qua.
“Nỗi đau tâm lí không giống như vết sẹo trên da, nó không nhìn thấy được. Nhưng nếu bạn nói chuyện với họ bạn sẽ cảm thấy nó một cách sâu sắc,” Wang nói, bà là người chứng kiến một số vụ bạo hành của Cách mạng Văn hoá khi còn là nữ sinh Bắc Kinh và nay ghi lại những nghiên cứu của bà về các nạn nhân của nó trên một website.
MacFarquhar nói việc Bắc Kinh từ chối cho phép một ủy ban [truy tìm] sự thật giống như những ủy ban đã làm ở Argentina, Chile, Nam Phi và Uruguay, đã để ngỏ cửa cho bạo lực tiếp tục hoành hành. “Họ đã không làm cái công việc ăn năn cần thiết nếu muốn vĩnh viễn để nó lại sau lưng.”
Chen quyết không để cho những hung bạo ấy lặp lại, và thề dùng những năm cuối của đời ông để rọi ánh sáng lên tấn bi kịch này thông qua câu chuyện người cha của ông. Một khi đứa cháu 12 tuổi của ông đủ lớn, ông sẽ kể cho nó nghe chi tiết cụ của nó đã chết như thế nào.
“Không có gì giống như thế đã từng xảy ra trong suốt 5.000 năm của nền văn minh Trung Hoa, ông nói. “Nó không được phép xảy ra lần nữa.”
Chen không có kế hoạch gì để tưởng nhớ năm thứ 50 cái chết của cha ông, nhưng sẽ không quên lòng quảng đại của người đã nuôi ông khôn lớn.
“Chúng con không biết bây giờ cha ở đâu, nhưng cha sẽ ở trong tim chúng con mãi mãi,” ông nói với người cha vắng bóng. “Cha là con người lương thiện, chính trực, tử tế...Chúng con sẽ luôn luôn nhớ cha.”

HT, 16-17 May 2016





[1] Tư tưởng cũ, phong tục cũ, văn hoá cũ, thói quen suy nghĩ cũ.
[2] Điạ chủ, phú nông, phản cách mạng, có ảnh hưởng xấu, cánh hữu.

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

Trung Quốc còn cách cuộc Cách mạng Văn hóa mới bao xa?


Trung Quốc còn cách cuộc Cách mạng Văn hóa mới bao xa?


Tham nhũng thối nát và bất bình của dân chúng dẫn tới một trong những thời kì náo loạn nhất của Trung Hoa. Liệu nó có xảy ra lần nữa?
07 tháng Năm, 2016

 Yang Hengjun *
Hiếu Tân dịch




Có nhiều lí thuyết khác nhau giải thích tại sao Mao Trạchđông phát động Cách mạng Văn hóa.  Nhưng có một sự nhất trí chung: Mao cảm thấy chế độ của ông ta bị đe dọa, và phải giữ lấy quyền lực đã rơi vào tay ông ta chỉ sau mấy thập niên đấu tranh vũ trang. Tại sao
                         Image Credit: Poster quảng cáo Cách mạng Văn hóa trên Shutterstock.com

Mao cảm thấy ông ta đang mất kiểm soát? Có phải ai đó đang gập rút chuẩn bị một cuộc chính biến? Có phải ông ta thấy một cuộc nông dân nổi dậy đang đến gần là cái đã lật nhào hết triều đại này đến triều đại khác trong hàng ngàn năm? Hay ông ta bị đe dọa bởi các cường quốc đế quốc và xét lại? Tôi tin rằng trong đầu óc ông ta có tất cả những lo lắng này, nhưng không cá nào có tầm quan trọng quyết định.
Trước Cách mạng Văn hóa, Mao đã tự lập bản thân ông ta như một lãnh tụ tối cao trong con mắt của dân chúng. Cho dù ông ta có muốn nâng cao vị thế của mình hơn nữa, thì đấy cũng không phải lí do để khởi động một cuộc cách mạng với những hậu quả tàn khốc đối với xá hội và văn hóa Trung Hoa. Trong khi đúng là mỗi triều đại Trung Hoa ở những thời điểm nhất định bị đe dọa bởi những cuộc nông dân nổi dậy và những cuộc bạo loạn vũ trang, thì đấy cũng chính là cách mà Mao cướp chính quyền lúc ban đầu. Đó là lí do tại sao sau khi thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa năm 1949 Mao lập tức tước vũ khí nông dân thông qua những chính sách kinh tế và tuyên truyền. Là người hăm hở đọc lịch sử Trung Hoa, Mao hiểu các hạn chế của nông dân Trung Hoa – trừ một điều là họ sống trong thống khổ cùng cực qua nhiều thế hệ, đến mức phải bán cả con đẻ của mình đi để có miếng ăn, mặt khác, những người nông dân tốt bụng và nhút nhát rất hiếm khi dám nổi dậy. Nghĩ rằng Mao cảm thấy bị đe dọa bởi các cường quốc đế quốc và xét lại là ngớ ngẩn; cứ cho là Mao đã từng nghĩ một cách sai lầm rằng Mỹ và Liên Xô có thể xâm chiếm Trung Quốc, thì ông ta cũng không bao giờ sợ một sự kiện như thế. 
Tôi không có ý định biện hộ cho Mao. Tôi chỉ muốn đưa ra một nghi ngờ cái ý tưởng cho rằng Mao sử dụng Cách mạng Văn hóa để bảo vệ chế độ của ông ta chống lại những mối đe dọa từ bên ngoài. Có thể dễ dàng cho rằng Mao chỉ là đầu óc hẹp hòi, rối loạn nhân cách, hay một kẻ bị lão suy khi qua tuổi 70 –  như thế thì chẳng cần tranh luận làm gì. Nhưng điều đó chẳng phải là hơi quá tiện lợi sao? Dù sao, những phong trào chính trị tương tự như Cách mạng Văn hóa của Mao đã diễn ra trong hầu hết các nước trong phe Xã hội chủ nghĩa, dù ở qui mô nhỏ hơn. Điều này có nghĩa là chúng ta không thể chỉ tập trung vào nhân cách của Mao, mà phải kết hợp nó với cái nhìn sâu hơn vào môi trường thể chế để nhận ra mục đích chính của Cách mạng Văn hóa. (Vì đây không phải là lĩnh vực sở trường của tôi, nên tôi xin mượn nội dung dưới đây từ những điều mà các học giả nhất trí.)
Như một cha già của nước Trung Hoa mới, Mao gắn bó với chế độ của ông ta hơn bất kì ai. Khi cảm thấy bị đe dọa, tất nhiên ông ta sẽ nhảy dựng lên để tự vệ. Nhưng mối đe dọa này phải đến từ bên trong chế độ, từ trong số những đồng chí của ông. Nếu nó chỉ giới hạn trong những cá nhân nhất định, Mao có thể dễ dàng đối phó với nó bằng những biện pháp khác. Tuy nhiên, ông đã phát động Cách mạng Văn hóa. Đó là bởi vì, theo đánh giá của Mao, mối đe dọa cho chế độ của ông ta và địa vị của ông ta không chỉ là người giữ chức chủ tịch nước, Lưu Thiếukỳ, hoặc một vài “phần tử tư sản,” mà là một số lớn đảng viên đã trở nên có cảm tình với chủ nghĩa tư bản. Lúc này Mao hiểu rằng chế độ của ông ta không còn có thể tự cứu bằng những biện pháp thông thường nữa.
Là một kẻ duy tâm, Mao đã bị cắt đứt liên hệ với thực tiễn Trung Hoa và thế giới từ sau 1949. Ông ta thuộc lịch sử Trung Hoa như lòng bàn tay của mình, nhưng có xét đoán rất kém về tương lai của Trung Hoa và thế giới. Hơn nữa, ông ta hiểu thấu cái yếu của chính chế độ của ông ta. Ông ta nhận ra chế độ của ông ta đang mục ruỗng từ bên trong, và ông ta thấy các đồng chí của mình đang tận dụng thành qủa của cách mạng – đó là sự xa rời lý tưởng của ông ta. Liệu ông ta có nên chờ đợi đến lúc nhân dân chán ngấy tham nhũng thối nát và buộc phải xuống đường để lật nhào cái chế độ mà ông ta đã tự tay dựng nên không?
Đây đã là hình mẫu lặp lại trong suốt lịch sử Trung Hoa, vả Mao sẽ không để cho nó xảy ra. Nhưng chế độ của Mao về cơ bản không có khả năng nhổ bật rễ tầng lớp tinh hoa chính trị tham nhũng. Nhiều phong trào mà Mao khởi xướng sau 1949 đã có rất ít hiệu quả. Sau đó Mao phải nghĩ ra một chiến lược mới – huy động dân chúng ở dưới đáy đánh tầng lớp quan liêu trí thức trung lưu.
Mao hiểu rõ rằng khi một chế độ mục nát từ bên trong, thì cuối cùng nhân dân sẽ xuống đường để quét đi chính cái văn hóa tham nhũng ấy. Nhưng khi điều ấy xảy ra, thì kẻ thù của nhân dân không còn chỉ là những quan chức tham nhũng, mà là cái chế độ đã sinh ra và dung dưỡng nạn tham nhũng ấy. Liệu Mao có nên ngồi yên nhìn điều ấy xảy ra không? Không đợi để nhân dân khởi động một cuộc cách mạng, Mao quyết định tự mình chủ mưu cuộc cách mạng ấy, và, dưới sự lãnh đạo của chính ông ta, vô hiệu hóa các phần tử tham nhũng và tư sản trung lưu. Đó là trận đánh để bảo vệ chế độ của ông ta, bằng cách trở thành lãnh đạo của một phong trào dân đen “tự phát” .
Điều xảy ra sau đó là Đại Cách mạng Văn hoá Vô sản. Tuy nhiên một số Hồng Vệ binh bây giờ đã già có thể cảm thấy luyến tiếc cuộc cách mạng “tự phát” ấy, họ thật ra không hơn những con rối do Mao giật dây. Trong suốt cả cuộc Cách mạng Văn hoá, Mao là người duy nhất không mất kiểm soát đối với bước ngoặt của các sự kiện.
Hầu hết các đánh giá về Cách mạng Văn hoá ngày nay đều nhất trí ở một điểm: đó là thảm họa của nhân dân Trung Hoa. Nhưng chúng ta cũng có thể hỏi một câu hỏi khác - nếu không có một thảm hoạ như thế liệu chế độ Mao có thể tồn tại nổi không? Nếu chúng ta theo con đường của Liên Xô hoặc Đông Âu, liệu chúng ta có thể xây dựng “chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Hoa” không?
Giới tinh hoa chính trị bị Cách mạng Văn hoá nhằm vào và một số học giả dường như có quan điểm cho rằng Trung Hoa có thể đã có tình hình tốt hơn nhiều nếu không có những phong trào do Mao phát động sau năm 1949 và cuộc Cách mạng Văn hoá tiếp theo sau. Nói cách khác, hàng trăm triệu nhân dân Trung Hoa đơn giản bị Mao lừa phỉnh. Dù điều này có thể khoái lỗ tai những người chịu đau khổ trong Cách mạng Văn hoá, nó không phải là sự đánh giá có thể đứng vững về giai đoạn lịch sử này. Tôi phải hỏi, sau khi Mao chết và được cất giữ ở Quảng trường Thiên An Môn, thì ai là người dẫn dắt hàng trăm triệu người Trung Hoa, và chúng ta đang đi về đâu vậy?
Hầu như tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều đã trải qua những phong trào chính trị tương tự như Cách mạng Văn hoá của Mao, nhưng không nước nào quá khích như vậy. Phải chăng đó là lí do để Trung Hoa là cường quốc xã hội chủ nghĩa quan trọng duy nhất còn lại ngày nay? Một số người gợi ý Trung Hoa được cứu bởi những cải cách và phát triển kinh tế, nhưng đơn giản lập luận này không thể đứng vững. Thậm chí trong những giai đoạn thành công nhất của các cuộc cải cách, Trung Hoa vẫn còn tụt sau Liên Xô và nhiều nước Đông Âu về mức sống. Tôi không khẳng định điều gì to tát cả. Tôi chỉ muốn nói rằng liệu Cách mạng Văn hoá có phải là một thảm họa tùy thuộc điểm nhìn không. Nó là thảm họa đối với nhân dân Trung Hoa cũng như đối với nền kinh tế và di sản văn hóa của đất nước này. Nhưng nếu bạn nhìn nó từ điểm nhìn sự ổn định của chế độ, thì kết luận có thể sẽ không đơn giản như thế.
Phán xét lịch sử sau khi nó xảy ra rồi thì dễ. Bây giờ có một quan điểm phổ biến rằng kinh tế Trung Hoa lẽ ra có thể mạnh hơn nhiều, và mức sống của nó đã có thể cao hơn, nếu không vì Cách mạng Văn hoá. Nghe có vẻ đúng, nhưng Trung Hoa năm 1966 không có khó khăn gì sao? Cách mạng Văn hoá đã xảy ra từ hư không chăng? Các thiết chế trước Cách mạng Văn hoá đã cởi mở hơn, tân tiến hơn, đại diện cho dân nhiều hơn chăng? Trước đó chúng ta đã có một xã hội tốt đẹp hơn chăng? Người ta có thể đòi hỏi không có sự lạm dụng quyền lực khiến nhân dân phẫn nộ chăng?
Dựa trên các nghiên cứu của tôi, các quan chức thời ấy cực kì đồi bại vì quyền lực của họ và thờ ơ với những đau khổ xung quanh họ. Vậy hệ thống xã hội trước Cách mạng Văn hoá có hiệu quả hơn chút nào trong việc kiềm chế lạm dụng quyền lực, chênh lệch giàu nghèo, và tham nhũng hơn ngày nay không? Trong trí nhớ của tôi, một bí thư công xã nhân dân ngày đó giống như một ông vua con, tận dụng phụ nữ dưới cái cớ “công tác tư tưởng,” hưởng thụ đặc quyền không thể tưởng tượng được đối với những người còn lại. Trung Hoa có thật là một xã hội lí tưởng trước Cách mạng Văn hoá không? Hay nó chỉ lí tưởng cho các quan chức tham nhũng và tầng lớp tinh hoa chính trị ấy, những kẻ sau đó trở thành mục tiêu cho cơn phẫn nộ của nhân dân trong Cách mạng Văn hoá?
Tính chất dã man của Cách mạng Văn hoá che mờ mắt chúng ta cái đen tối tồn tại trước nó. Trong khi nhiều cái đã bị chôn vùi trong lịch sử, chúng ta biết Trung Hoa hiện nay đang ở đâu. Trung hoa ngày nay hơn rất nhiều so với năm 1966, nhưng một nỗi luyến nhớ Mao của dân đen đang tăng lên. Nhiều người trẻ nói rằng nếu Mao quay trở lại, họ sẽ phát động một cuộc Cách mạng Văn hoá khác. Họ sẽ lần lượt lôi cổ từng tên quan chức tham nhũng xuống, và dẫm đạp lên xác chúng.
Những người trẻ đang kêu gọi một cuộc Cách mạng Văn hoá khác có thể ít hiểu biết về những gì xảy ra hồi đó. Đó không phải là lỗi của họ, mà là lỗi của xã hội và những thiết chế của chúng ta. Chúng ta không được ủng hộ để phản ánh về cuộc Cách mạng Văn hoá những ngày đó; nếu chúng ta đã làm thế thì có lẽ chúng ta đã đạt được một số tiến bộ nào đó. Đối với phần lớn người Trung Hoa, khi họ nghĩ về Cách mạng Văn hoá, trong tâm trí họ hiện hình đầy những khẩu hiệu và những cảnh làm nhục công khai. Chủ tịch Trung Quốc chết một cái chết thảm hại. Vợ ông buộc phải đeo chiếc vòng cổ làm bằng những quả bóng bàn. Nhà của bí thư tỉnh bị cướp bóc. Thống đốc phải đeo cái bảng ghi  rõ tội trạng sau lưng. Các chi tiết của cuộc sống đồi bại bị bóc trần trước công chúng. Các ủy viên ban chấp hành [Trung ương] Đảng khắp trong nước bị làm nhục. Tài sản ở nhà của họ, gồm vàng bạc, các tác phẩm nghệ thuật có giá trị bị cướp đoạt. Trí thức cũng là mục tiêu. Các quan chức phải dọn ra khỏi các biệt thự của họ, một số mất người hầu, một số mất tài xế. Con cái của các “phần tử tư sản” trong một nước có mức sống thấp nhất thế giới bị tước hết đặc quyền đặc lợi, bị Hồng Vệ Binh đánh đập tàn nhẫn.
Đây có phải là những gì thuộc về Cách mạng Văn hoá không? Nếu bây giờ bạn hỏi một người Trung Hoa trung bình bạn gặp trên đường phố, xem họ có sẵn sàng cho một cuộc Cách mạng Văn hoá khác không. Tôi có thể nói với bạn điều này: không chỉ họ sẵn sàng cho một cuộc Cách mạng Văn hoá khác, lần này họ sẽ bắt tất cả bọn quan chức tham nhũng dàn hàng ngang, và hành hình bọn chúng.
Ngay cả những trí thức sống quá cách biệt không chịu những phiền toái với lớp dân cư Trung Hoa thấp hơn cũng hiểu rằng nếu có một cơ hội như thế, nếu Cách mạng Văn hoá tái diễn dưới hình thức này hay hình thức khác, thì hàng trăm triệu người Trung Hoa đang vật lộn để sống còn sẽ không chút do dự, đưa tất cả các quan chức, từ một bộ trưởng đến một thị trưởng ở địa phương, ra sỉ nhục nơi công cộng, nếu không phải lên máy chém. Ý chí cách mạng của họ sẽ không thấp hơn chút  nào so với ý chí được thả ra trong Cách mạng Văn hoá. Họ thậm chí sẽ tự biện hộ theo cách này: “Lần trước chúng tao đã bị Mao bịp, và biến thành những con tốt đen của lão; lần này thì vì chúng tao!”
Tình trạng khó chịu mà những năm 1966 phải đối mặt vẫn còn tồn tại hôm nay, bởi vì các thiết chế xã hội của chúng ta đã không thay đổi nhiều. Những xấu xa tồi tệ mà một người Trung Hoa bình thường hồi đó cũng biết không chỉ còn đến ngày nay, mà thậm chí còn nghiêm trọng hơn nhiều. Cái thất vọng mà Mao cảm thấy vào thời ấy cũng đang làm điên đầu các lãnh đạo hôm nay.


_______________________________________________________
*  Yang Hengjun là một học giả Trung Hoa độc lập, nhà văn, blogger. Ông đã từng làm việc trong Bộ Ngoại giao Trung Hoa  và là  ủy viên cao cấp tại Hội đồng Atlantic ở Washington, DC. Yang nhận bằng tiến sĩ  (Ph.D) từ Đại học Công nghệ Sydney, Australia.

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2015

The Duniazát

Truyện ngắn của Salman Rushdie
(from The New Yorker)
Hiếu Tân dịch

Năm 1195, nhà triết học vĩ đại Ibn Rushd, đã có thời là một qadi, hay quan tòa, ở Seville và gần đây nhất, là bác sĩ riêng cho Caliph[i] Abu Yusuf Yaqub tại tỉnh quê hương ông là Córdoba, đã bị giáng chức và bị sỉ nhục vì những tư tưởng tự do của ông không thể được chấp nhận đối với những kẻ Berber cuồng tín đang ngày càng mạnh lên, loang ra như dịch hạch khắp Tây Ban Nha Arab; và bị đầy đến sống trong một làng nhỏ Lucena, một làng đầy những người Do Thái không được tự nhận mình là người Do Thái bởi vì họ đã bị buộc cải sang đạo Hồi. Ibn Rushd, một nhà triết học đã không còn được phép thuyết giảng triết học của mình nữa, tất cả tác phẩm của ông đã bị cấm và bị đốt, ngay lập tức cảm thấy thoải mái giữa những người Do Thái không được tự nhận là người Do Thái. Ông đã từng được Caliph của triều đình hiện thời, triều Almohad, sủng ái, nhưng rồi sủng thần trở nên lỗi thời, và Abu Yusuf Yaqub đã cho phép những kẻ cuồng tín đuổi nhà giảng luận vĩ đại về Aristotle ra khỏi thành phố.
 Nhà triết học không được thuyết triết học của mình sống trong một con phố hẹp đường không lát đá, trong một ngôi nhà tồi tàn với những của sổ nhỏ và ngột ngạt kinh khủng vì thiếu ánh sáng.

Đọc lại Truyện Kiều

Hiếu Tân
Xem lại một bài viết cách đây mười năm, cùng đọc lại Truyện Kiều trong trí nhớ.

Truyện Kiều là một trong những tác phẩm luôn gợi ra những suy nghĩ mới mỗi lần đọc lại. Hơn hai trăm năm nay, về văn chương Truyện Kiều đã có hàng ngàn lời bình, tán; những khám phá, phát hiện góp vào việc đọc hiểu, thẩm, thụ cảm, thưởng ngoạn vẻ đẹp lộng lẫy của ngôn từ, văn phong, tình tiết, tâm lý. Góp, vì những bình tán ấy thường là hoà hợp, bổ sung cho nhau mà ít khi tranh giành loại trừ nhau, làm cho ta hiểu các tầng ý nghĩa của truyện ngày càng phong phú và sâu sắc thêm. Ngay cả khi các kiến giải khác nhau về cách hiểu, cách đọc một chữ, thì tất cả các lý giải vẫn còn đó bỏ ngỏ để người đọc người nghe tự mình lựa chọn, tâm đắc.
Còn về tư tưởng, triết lý Truyện Kiều? Các học giả chia làm nhiều phe, dùng vũ khí lý luận của mình nhất quyết chiếm lĩnh mảnh đất Truyện Kiều cho riêng mình, bằng cách loại trừ, đánh bại, đánh bạt đối thủ để giành phần thắng. Mỗi bên có cái lý của riêng mình, và Truyện Kiều còn đó.
Hãy hình dung Truyện Kiều là “vườn xuân một cửa”, thì cửa ấy đâu có ngăn cấm một ai. Bước chân vào đấy, ta có thể suy tư về đủ điều, mọi lẽ. Dựa trên những diễn biến, những tâm tình trong truyện, ta có thể trầm tư về lẽ đạo hay ngẫm ngợi lẽ đời, và ta thấy mình có toàn quyền như thế. Còn nếu xác quyết rằng “Chính Nguyễn Du đã nghĩ thế này” hay “đây mới thực là tư tưởng Nguyễn Du”, thì xin hãy dè dặt, chậm rãi một chút. Tôi e rằng Nguyễn Du sẽ mỉm cười lặng lẽ: “Ta quả có viết 3254 câu thơ, nhưng ta có nói gì đâu?” 

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2015

Danh tiếng Kundera ngày nay ra sao?

Jonathan Coe

The Guardian, Friday 22 May 2015 
Hiếu Tân dịch

Milan Kundera

Trong những năm 1980 mọi người đều đọc “Đời nhẹ khôn kham” và “Cười cợt và Quên lãng”. Nhưng, khi ông xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên sau hàng chục năm, danh tiếng của nhà văn gốc Tiệp này ngày nay ra sao – phải chăng nó đã bị hủy hoại không thể cứu vãn do cách miêu tả phụ nữ của ông?
Ở trang đầu cuốn tiểu thuyết mới của Milan Kundera xuất bản ở Pháp năm ngoái khi tác giả 85 tuổi, một người đàn ông đang chậm rãi thả bộ dọc theo một đường phố Paris vào tháng Sáu, khi “mặt trời ban sớm ló khỏi những đám mây”. Tên anh ta là Alain. Chúng ta không biết tuổi của anh, hay anh trông ra sao, nhưng chúng ta biết rằng anh là một trí thức bởi vì cảnh hở rốn của các thiếu nữ mà anh đi ngang qua trên đường phố gợi hứng cho một loạt suy tư, “mô tả và định nghĩa đặc trưng” của những “khuynh hướng gợi tình” khác nhau.
Ai khác có thể viết những dòng trên đây nếu không phải Milan Kundera?

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Người xin lỗi

Milan Kundera
Hiếu Tân dịch


Alain trầm tư về rốn

Đang là tháng Sáu, mặt trời ban sớm ló khỏi những đám mây, và Alain đang chậm rãi thả bộ dọc theo một đường phố Paris. Anh quan sát những cô thiếu nữ: tất cả đều để hở rốn giữa thắt lưng quần quá trễ và áo thun quá ngắn. Anh bị quyến rũ và thậm chí bối rối: cứ như thể sức quyến rũ của họ không còn ở đùi, ở mông, hay ở ngực họ nữa, mà đã chạy xuống cái lỗ nhỏ tròn ở tâm thân thể họ vậy.
Điều này gợi cho anh suy nghĩ: nếu một người đàn ông (hay một thời đại) coi những bắp đùi là trung tâm sức hấp dẫn của phái nữ, người ta sẽ mô tả và định nghĩa đặc trưng của khuynh hướng gợi tình ấy như thế nào?