Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2015

GÓT CHÂN ASIN CỦA PUTIN

Điểm cuốn sách “Sự thăng trầm của số phận: cuộc đấu giành dầu và quyền lực ở Nga”[i] của Thane Gustafson – giáo sư khoa học chính trị, ĐH Georgetown, Washington.

Tony Wood, London Review of Books
Hiếu Tân dịch (“LE TALON D’ACHILLE DE POUTINE” – Books, Mai 2014.)


Từ khi phát hiện ra những mỏ dầu Sibia, 1960s, nước Nga gắn bó với vàng đen. Chính sự sụt giá dầu vào năm 1986 đã kết liễu cơn hấp hối của LX. Chính sự bùng phát của nó, từ 1999, đã tài trợ cho sự trở lại quyền lực của Putin và thiết lập chủ nghĩa tư bản lai tạp và biến chất, biến nước Nga thành gần như một nhà nước dầu lửa. Ngày nay, hệ thống này đã suy yếu. Sự phụ thuộc xuất khẩu dầu khí rất nặng nề, các nguồn đang có xu hướng cạn kiệt và các công nghệ thì lỗi thời.

Lịch sử nước Nga thế kỉ XX không thiếu những bước ngoặt, từ CMT10 năm 1917, qua cuộc đánh bại Đức ở Stalingrad 1943, cho đến sự biến mất đột ngột LX cuối 1991. Nhưng mọi người đều biết, làm nên số phận nước Nga không phải chỉ có những thời điểm then chốt này. Những bước chuyển khác, khó thấy hơn, đã uốn cong quĩ đạo của đất nước này. Bắt đầu từ năm 1959. Hồi đó các nhà địa chất từ lâu đã ngờ vỉa quặng ngầm bên dưới đầm lầy L’Ob có dầu, một cuộc thăm dò khảo sát khi đó đã xác nhận điều này, khi phát hiện ra một vỉa dầu ở gần làng Chaim. Từ 1960, giếng R-6 được đào, sau 18 ngày khoan đến độ sâu 1.500 m nó bắt đầu phun dầu với tốc độ 400 đến 500 tấn / ngày đêm, và đây là ngành công nghiệp quan trọng đầu tiên được khai thác ở Sibir. Thành công này kích khởi cơn cuồng nhiệt thăm dò và trong thời gian bốn năm tiếp theo sau, hơn hai mươi vỉa dầu trong vùng này được phát hiện. Nhưng mãi đến tháng Ba năm 1965 khám phá quan trọng nhất trong lịch sử dầu khí nước Nga mới được thực hiện, với mỏ dầu khổng lồ Samotlor: đứng thứ hai thế giới ở đỉnh điểm của nó trong những năm 1980, đến nay vẫn nằm trong số năm nước hàng đầu, sản xuất hơn 35 triệu tấn dầu thô một năm.

Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2015

Alfred de Musset - Lời thú tội của một đứa con thế kỉ


HIẾU TÂN dịch 
[Collection Henri Mitterand: LITTÉRATURE XIXe Siecle-TEXT ET DOCUMENT]

Chắc chắn không có ai miêu tả hay như Musset, trong hai chương đầu của cuốn tiểu thuyết tự thuật năm 1836 Lời thú tội của một đứa con thế kỉ, trạng thái tinh thần của thế hệ trẻ lãng mạn trong phần ba đầu thế kỉ. Với óc tỉnh táo, nhà văn đã nhận ra trong cái khủng khiếp của cách mạng và trong cảnh tan tác của đế chế hai chấn thương lớn nhất đánh dấu thế hệ trong đó có ông: “Tất cả mọi bệnh tật của xã hội đến từ hai nguyên nhân: nhân dân đã qua năm 1789 và 1814 mang trong tim hai vết thương. Tất cả những gì đã qua thì không còn nữa, tất cả những gì sẽ đến thì vẫn còn chưa đến. Đừng tim bí mật của những điều ác của chúng ta ở đâu khác”

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

Alice Munro: Sự giàu có của một cuộc đời kép

Aida Edemariam
The Guardian, Saturday 4 October 2003

Hiếu Tân dịch – 2013

Sinh ra và lớn lên trong một khu nghèo nàn ở Canada, Alice Munro lấy việc đọc - và sau này là viết – làm lối thoát khỏi cảnh sống khó khăn của gia đình. Được mô tả như một người đàn bà “nội trợ e dè” khi bà nhận được giải thưởng đầu tiên, từ đó đến nay bà được so sánh với Chekhov, và bây giờ (2003), ở tuổi 72, được coi là người viết truyện ngắn hay nhất trong những người còn sống.

Nhà văn Canada Alice Munro
Bà viết về việc giết mổ gà tây và nuôi cáo, về những cây gỗ bị đốn trong rừng hoang Ontario, về những trường học nông thôn khắc nghiệt và những căn bệnh dai dẳng, về bạo lực gia đình và nỗi nhục nhã thầm kín, và trên hết, bà viết về cuộc đời những cô gái và những người phụ nữ. Trong khi những chuyện này có vẻ làm cho bà kém nổi tiếng hơn là bà đáng được thế, thì bà đã bị ném đá như ta có thể đoán trước, rằng bà chỉ quan tâm những chuyện nhà cửa nhỏ mọn, hẹp hòi, địa phương và cũ kĩ, rằng bà chỉ viết truyện ngắn, những câu chuyện của bà chỉ nói về thắng lợi đối với những định kiến vụ vặt như thế. Trong một thời gian dài Alice Munro được so sánh với Chekhov; John Updike còn kể thêm Tolstoy, và A S Byatt thì nói đến Guy de Maupassant và Flaubert. Munro thường được gọi là nhà viết truyện ngắn bằng tiếng Anh hay nhất trong số những người còn sống; các từ “truyện ngắn” thường xuyên được nhắc đến.

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

Vài "tâm tư" khi dịch sách "Learning Theories in Childhood"

Thưa các anh chị và các bạn,

Tôi rất vui mừng vì một sự tình cờ tôi được gặp gỡ và làm việc với Trường Hoa Sen, và cộng tác với ban tu thư, qua dịch giả Mai Sơn, và điều thú vị là cuốn sách tôi dịch đầu tiên cho BTT chính là cuốn Learning Theories in Childhood (LTiC), [Các lý thuyết về học tập ở tuổi thơ].


Những vấn đề về dạy và học là cái mà tôi vốn quan tâm, trong những lúc tôi từng học và từng dạy. Luôn khao khát những ý tưởng mới mẻ về dạy và học: Độc lập suy nghĩ. Động cơ học tập. Lấy người học làm trung tâm. Giải quyết tình huống có vấn đề... Metacognition (LTiC, 118) trong khi nghiền ngẫm về học, tôi thấy một ý tưởng mà cho đến bây giờ, qua các sách mình đọc tôi vẫn thấy nó là của riêng mình: Trí thông minh/khả năng học tập của người học (learner) không phải chỉ là thứ trời cho, nó có thể và cần được phát triển ngay trong quá trình học.

Sau đây là những điều tâm đắc khi dịch cuốn sách.

NHÀN NGẪM

Cái ý tưởng “đối thoại với Phật” bị nhiều người chê là cao ngạo, bất kính. Phải vậy không? Làm gì có một ông Phật hiển hiện trước mắt mình, để mình thưa chuyện. Vậy nên đối thoại với Phật chỉ là mình thưa chuyện với chính mình. Nói chuyện với tâm mình, Phật tại tâm mà.

SINH LÃO BỆNH TỬ

Xuât phát điểm của tư tưởng Phật là một chữ khổ, nó quán xuyến toàn bộ hành trình của sinh mệnh. Rõ hơn, đây là sinh mệnh người, vì chúng ta là người, nên quan tâm đến sinh mệnh người. Không biết các loại chúng sinh khác (noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh..) có cảm nhận về con đường sinh (lão bệnh) tử này không? Thêm nữa, nó là sinh mệnh của cá thể người, của cá nhân. Bởi vì, khi sinh mệnh được ngắt ra làm bốn nhịp như thế, Sinh/ Lão/Bệnh/Tử, thì không có một tập hợp sinh thể nào mà trong nó tất cả các cá thể luôn cùng một nhịp. Ngay trong một cơ thể, trong từng giây phút, nhóm tế bào này chết đi nhóm tế bào khác sinh ra, liên tục không dừng. Vậy trong cơ thể lúc nào cũng có Sinh và có Tử, tổng hợp lại đó chính là hoạt động Sống. Cũng giống như thế với một cộng đồng người. Khi xảy ra một đại họa, như thiên tai, dịch bệnh hoặc chiến tranh, rất nhiều người chết trong khoảng thời gian ngắn, thì đó là tổng số những cái chết cá nhân, nhiều người khác không chết, cộng đồng không chết. Và nhiều người được liên tục sinh ra. Quán ta với người là một, không hai, không thể tác dụng trong trường hợp xét, vì ta đang bệnh không thể cho rằng người khác cũng đang bệnh.

MẤY MẨU CHUYỆN CƯỜI

HIẾU TÂN
Theo cuốn Plato và con thú mỏ vịt bước vào quán bar


  Hai tác giả cuốn Plato và con thú mỏ vịt bước vào quán bar[1], Thomas  Cathcast và Daniel Klein, có một sáng kiến đem những chuyện vui cười đến cho người học triết, khiến triết học không còn quá khô khan và “nghiêm trọng”; và cho chúng ta thấy những chuyện cười, tất nhiên là rất cần trí tuệ, đôi khi cũng minh triết lắm chứ.

  Sau đây là một số thí dụ vui:

Chuyện cười số 1:
Morty về nhà thấy vợ gã cùng với Lou, người bạn chí thiết của gã, đang trần như nhộng trên giường. Morty chưa kịp mở miệng thì Lou nhảy ra khỏi giường và bảo: “Trước khi cậu nói bất cứ điều gì, nghe đây, ông bạn vàng ạ, cậu tin vào cái gì, tin tớ hay tin vào mắt của cậu?”

PIERRE-AUGUSTE RENOIR (1841 - 1919)

Renoir sinh ở Limognes, là con thứ sáu trong một gia đình nghèo có bảy anh em. Mười ba tuổi Renoir đã bắt đầu kiếm sống bằng nghề vẽ lên đồ sứ. Việc học nghề quá sớm như thế đã để dấu vết lên nghệ thuật của ông, nó luôn là trang trí bất kể tính chất hiện thực ở giai đoạn sau. Bố của Renoir là thợ may gia công nên ông phải bán tranh nhiều hơn những họa sĩ khác. Đó là nguyên nhân giải thích việc ông đáp ứng nhu cầu bằng những bức chân dung vẽ theo thị hiếu, nhưng rất đẹp, trong khi những bức khác của ông lại tỏ ra tự do thoải mái hơn. Người ta chê trách Renoir rất nhiều về tất cả những điều đó.